Thứ Tư, 4 tháng 8, 2010

ATM Việt Nam có miễn dịch với “lỗ hổng”?

Ngoài việc bảo mật “vòng trong”, hầu hết các ngân hàng có dịch vụ ATM đều khẳng định họ còn triển khai các biện pháp an ninh “vòng ngoài” như có người bảo vệ, kiểm soát máy thường xuyên, lắp camera theo dõi 24/24 tiếng, nếu có gì bất thường tại máy sẽ báo
Công ty nghiên cứu bảo mật IOActive tại Mỹ vừa công bố đã khám phá ra hai điểm yếu nghiêm trọng của toàn bộ hệ thống máy rút tiền tự động (ATM).
“Lỗ hổng” thứ nhất là một mẫu chìa khóa để mở thành công các máy ATM cùng loại của ngân hàng và “lỗ hổng” thứ hai được cho là nằm ở hệ thống phần mềm... Cả làng ATM Việt Nam giật mình bởi lẽ hiện ở Việt Nam có tới 10.000 ATM, và 100% thiết bị này đều là hàng nhập khẩu.

Mặc dù thừa nhận một thực tế là Việt Nam cũng có tình trạng ATM chung mẫu chìa khóa, tương tự điểm yếu mà IOActive vừa công bố, song các chuyên gia trong nước cho rằng trong hai điểm yếu đã nêu, lỗ hổng về phần mềm không đáng ngại vì các ngân hàng Việt Nam đều dùng mật khẩu một lần (OTP) và áp dụng nhiều biện pháp bảo mật nghiêm ngặt.

Một chuyên gia tư vấn về máy ATM thuộc Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam thì bày tỏ quan điểm: hai “lỗ hổng” nêu ở trên không phải là mới.

Về “lỗ hổng” thứ nhất: chìa khóa khoang PC đúng là dùng chung cho tất cả máy ATM cùng loại. Điều đó đồng nghĩa với việc nếu có chìa khóa này thì có thể mở khoang chứa PC của bất kể máy ATM nào cùng loại. Tuy nhiên máy ATM luôn được thiết kế làm hai khoang riêng biệt: khoang chứa PC (phía trên) và khoang chứa các thùng tiền (4 hoặc 5 thùng) phía dưới. Khóa ở lớp cửa két sắt phía trong là khóa dạng vòng hoặc điện tử. Nếu không biết mật mã thì không thể mở khóa này được.

Hầu hết phần mềm trên máy ATM hiện nay đều có cơ chế kiểm soát thiết bị ngoại vi gắn vào bất hợp pháp và một loạt các phần mềm firewall, anti-spy, virus, cơ chế quản trị phân quyền và rất nhiều policy khác (tùy vào từng ngân hàng). Vì vậy dù có mở được khóa khoang PC thì cắm USB vào cũng không thể chạy chương trình trên USB được, trừ khi là nhân viên ngân hàng.

Trường hợp bằng cách nào đó làm cho PC nhận biết USB thì việc chạy chương trình hacker để bắt ATM trả tiền ra là không thể vì, máy ATM không có cơ chế rút tiền dạng offline mà phải có phản hồi từ máy chủ tại ngân hàng sau khi kiểm tra hàng loạt thông tin gửi lên.

Về “lỗ hổng” thứ hai, chuyên gia này phân tích, chẳng có ngân hàng nào "dại dột" để mạng nối từ ATM tới trung tâm thẻ lại hòa chung vào đường truyền Internet công cộng, chứ chưa nói gì tới việc giao dịch với các hệ thống khác qua Internet. Ngân hàng luôn thuê đường mạng riêng từ các công ty viễn thông cho việc truyền dữ liệu của mình và các kênh thanh toán khác trên Internet của ngân hàng luôn độc lập với hệ thống máy ATM, vì vậy chuyện hack từ Internet vào để bắt ATM trả tiền ra càng không thể.

Theo bà Nguyễn Thu Hà, Chủ tịch Hiệp hội Thẻ Việt Nam, Phó tổng giám đốc Ngân hàng Vietcombank, các máy ATM của Vietcombank đều được trang bị phần mềm ngăn chặn các truy cập trái phép, chống virus và không cho bất cứ các ứng dụng nào khác được tải lên ATM trừ những phần mềm định sẵn được chạy và đã được chứng thực từ hãng sản xuất ATM.

Trong khi đó, theo Phó tổng giám đốc phụ trách công nghệ của Ngân hàng VietinBank, ông Phạm Anh Tuấn, thì cả 1.700 máy ATM của ngân hàng này đều có một ổ khóa riêng. Nhưng ngay cả trường hợp đặt máy theo tiêu chuẩn chung, cũng không ảnh hưởng nhiều tới bảo mật ngân hàng vì khóa này chỉ mở khoang kỹ thuật. Còn két sắt có mật mã riêng và được thiết kế theo tiêu chuẩn bảo mật, an toàn cao nhất, dùng súng cũng không thể phá được và quá nặng để có thể khuân đi.

Mặt khác, ngoài việc bảo mật “vòng trong”, hầu hết các ngân hàng có dịch vụ ATM đều khẳng định họ còn triển khai các biện pháp an ninh “vòng ngoài” như có người bảo vệ, kiểm soát máy thường xuyên, lắp camera theo dõi 24/24 tiếng, nếu có gì bất thường tại máy sẽ báo động về trung tâm...

Việc máy ATM tại Việt Nam đang đạt độ an toàn cao và có vẻ hoàn toàn “miễn dịch” với sự cố lỗ hổng ATM như khẳng định của giới ngân hàng Việt Nam quả là một tín hiệu phấn khởi. Tuy nhiên, một số ý kiến cho rằng họ vẫn còn “gờn gợn” một điều gì đó..., khi có một thực tế là từ trước tới nay ATM tại Việt Nam vẫn hay “có vấn đề”: nào là trục trặc đường truyền, “ăn thẻ, nuốt thẻ”, rồi lại rò rỉ điện (thậm chí đã gây ra chết người!).
(Theo VnEconomy)

Tự in hóa đơn: Mừng và lo

Tổng cục Thuế cho biết, với hóa đơn đã đặt in hoặc đã mua trước 1/1/2011, Tổng cục sẽ có hướng dẫn, với tinh thần là không cần phải hủy mà sẽ được sử dụng tiếp từ 4-6 tháng, nhưng phải đăng ký với cơ quan thuế.
Sắp tới, doanh nghiệp sẽ được đăng ký để tự in hóa đơn hoặc đặt in hóa đơn với số lượng lớn. Cơ chế mới này được cho là sẽ chấm dứt tình trạng xin-cho vẫn diễn ra từ trước đến nay trong quy trình cấp và bán hóa đơn cho doanh nghiệp.
Bộ Tài chính đang xây dựng thông tư hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 51/2010/NĐ-CP ngày 14/5/2010 của Chính phủ quy định về hoá đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ. Nội dung dự thảo quy định rất nhiều vấn đề, tuy nhiên, với đặc thù của một số ngành sản xuất và dịch vụ, việc thực hiện các quy định này có thể gặp khó khăn.

Theo bà Vũ Thị Mai, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế, dự kiến Thông tư sẽ được ban hành trong tháng 8 này để doanh nghiệp kịp thời được tập huấn, phổ biến quy định mới, thiết kế mẫu hóa đơn, chọn nhà in, ký hợp đồng in hóa đơn... trong bốn tháng trước khi bắt đầu thực hiện quy định mới. Theo quy định mới, cơ quan thuế chỉ còn bán hóa đơn cho hai đối tượng là hộ kinh doanh cá thể và tổ chức không kinh doanh. Việc báo cáo sử dụng hóa đơn sẽ được thực hiện theo từng quý thay vì theo tháng như hiện nay.

Ông Cao Anh Tuấn, Vụ trưởng Vụ Chính sách (Tổng cục Thuế), nhận xét điểm hạn chế nhất khi Nhà nước bao cấp hóa đơn là doanh nghiệp không được quyền chủ động mà phải thực hiện theo cơ chế xin - cho, số lượng được bán có hạn, khi dùng hết cũng không được mua ngay. Theo cơ chế mới, tùy theo nhu cầu sử dụng, doanh nghiệp có thể đặt in hóa đơn 5-10 năm mà không cần phải đăng ký với cơ quan thuế, chỉ khi nào hóa đơn được phát hành, doanh nghiệp mới phải thông báo với cơ quan thuế.

Một điểm khá “cởi mở” của quy định này là Tổng cục Thuế không quy định mẫu hóa đơn, chỉ quy định các thông tin bắt buộc phải thể hiện. Tổng cục Thuế sẽ đưa ra mẫu tham khảo. Vì vậy, doanh nghiệp có quyền in thêm các thông tin quảng cáo hoặc logo công ty. Thêm vào đó, doanh nghiệp không cần phải gửi mẫu để cơ quan thuế duyệt trước khi in như hiện nay. Những doanh nghiệp đã đặt in vẫn có thể tiếp tục sử dụng mẫu cũ.

Tổng cục Thuế cho biết, với hóa đơn đã đặt in hoặc đã mua trước 1/1/2011, Tổng cục sẽ có hướng dẫn, với tinh thần là không cần phải hủy mà sẽ được sử dụng tiếp từ 4-6 tháng, nhưng phải đăng ký với cơ quan thuế. Hiện cả nước có hơn 350.000 doanh nghiệp thuộc diện tự in hoặc đặt in hóa đơn, trong đó, chỉ có khoảng 10.000 doanh nghiệp đã quen với tự in hoặc đặt in hóa đơn.

Dù vậy, dự thảo thông tư cũng có những điểm khiến doanh nghiệp thắc mắc.

Chẳng hạn như yêu cầu: “Ngày lập hoá đơn là ngày người bán và người mua làm thủ tục ghi nhận hàng hoá, dịch vụ đã được chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng. Các trường hợp pháp luật quy định chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký thì ngày lập hoá đơn là ngày bàn giao hàng hoá”. Với những doanh nghiệp bán hàng đi tỉnh xa, ngày xuất hàng và ngày giao hàng có thể cách xa nhau. Đối với doanh nghiệp xuất khẩu, ngày lập hoá đơn đối với hàng hoá xuất khẩu là ngày làm xong thủ tục cho hàng hoá xuất khẩu. Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp xuất khẩu lập hóa đơn xong phải mất một, hai ngày hải quan mới cho thông quan.

Công ty Mai Linh cho biết, hiện công ty đang sử dụng hóa đơn tự in bằng giấy in liên tục, hàng tháng công ty xuất ra đến trên 10.000 vé và không yêu cầu người sử dụng dịch vụ phải ký tên lên hóa đơn. Đại diện công ty nêu thắc mắc: “Với quy định mới, tới đây khi xuất vé tài xế có phải yêu cầu khách hàng ký tên thì hóa đơn mới hợp pháp không?”.

Dự thảo thông tư cũng yêu cầu việc xuất hóa đơn phải có con dấu và chữ ký của giám đốc. Tuy nhiên, với những đơn vị có nhiều chi nhánh, để làm được việc xuất hóa đơn theo ngày, các chi nhánh phải cắt cử người chuyên làm công việc “đóng dấu”. Với đơn vị kinh doanh lớn, xuất nhiều hóa đơn, nếu bắt buộc đóng dấu tất cả hóa đơn thì rất khó cho doanh nghiệp. Đặc biệt với những đơn vị có nhiều chi nhánh, vì như vậy phải về trụ sở chính xin đóng dấu lên hóa đơn.

Đại diện Bệnh viện Phụ sản quốc tế Sài Gòn nêu quan điểm, việc cấp hóa đơn theo ngày khó khả thi đối với các cơ sở y tế vì mỗi ngày bệnh viện đón tiếp hàng nghìn bệnh nhân, nhưng rất nhiều trường hợp 15 ngày sau mới quay lại xin hóa đơn, và người mua hàng thường không phải là người ký trong hóa đơn, nên dễ dẫn đến sai thông tin.

Một số ý kiến cũng lo ngại về tình trạng làm giả hóa đơn vì doanh nghiệp sẽ phải chịu trách nhiệm về số lượng hóa đơn mang tên công ty mình. Do đó, có ý kiến cho rằng Tổng cục Thuế nên xem xét việc cấp phép cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực in hóa đơn.

Tổng cục Thuế cho biết, đối với những trường hợp giao dịch qua điện tử sẽ có hóa đơn điện tử. Tổng cục đang lấy ý kiến về những thông tin liên quan đến giao dịch điện tử và sẽ có một thông tư riêng về loại hóa đơn này.
(Theo VnEconomy)

Thứ Ba, 3 tháng 8, 2010

Tỷ giá hạch toán ngoại tệ tháng 8

Ảnh minh hoạ.
Theo thông báo mới ban hành hôm qua, 2/8/2010, của Kho bạc Nhà nước, tỷ giá hạch toán giữa đồng Việt Nam (VND) với đồng đô la Mỹ (USD) tháng 8/2010 là 18.544 đồng.
Cũng theo thông báo này, tỷ giá của VND với đồng euro của Châu Âu là 24.209 đồng; với đồng nhân dân tệ của Trung Quốc là 2.739 đồng; đồng yên của Nhật Bản là 215; đồng bạt của Thái Lan là 575 đồng;…
Tỷ giá này được áp dụng trong các nghiệp vụ: Quy đổi và hạch toán thu chi ngân sách Nhà nước bằng ngoại tệ, kể cả các khoản thu bằng hiện vật có gốc bằng ngoại tệ; Quy đổi và hạch toán sổ sách kế toán của Kho bạc Nhà nước.

TP.HCM: Hướng dẫn mới về thuế thu nhập cá nhân với bất động sản

Cục Thuế TP.HCM vừa có văn bản hướng dẫn mới về thuế thu nhập cá nhân (TNCN) với chuyển nhượng bất động sản. Theo đó, cơ quan thuế sẽ không truy thu thuế TNCN của lần chuyển nhượng cuối cùng với trường hợp người sử dụng đất chưa có giấy tờ hợp lệ về nhà đất nay nộp hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Trường hợp nhà đất đã có giấy tờ hợp lệ, người sử dụng đất nhận chuyển nhượng trước ngày 1-1-2009 nay nộp hồ sơ hợp lệ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên người nhận chuyển nhượng cuối cùng thì chỉ truy thu một lần thuế TNCN của lần chuyển nhượng cuối cùng.
Trường hợp lần chuyển nhượng cuối cùng có hợp đồng công chứng, có chứng nhận do nhận chuyển nhượng hoặc thừa kế của các đối tượng được miễn thuế như giữa vợ với chồng; giữa cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ, giữa cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi; giữa cha chồng, mẹ chồng với con dâu; giữa cha vợ, mẹ vợ với con rể; giữa ông nội, bà nội với cháu nội, giữa ông ngoại, bà ngoại với cháu ngoại; giữa anh chị em ruột với nhau thì được miễn thuế TNCN. Trường hợp lần chuyển nhượng cuối cùng bao gồm cả tài sản trên đất thì việc truy thu thuế TNCN lần chuyển nhượng cuối cùng được tính cả tài sản trên đất.
Cục Thuế cũng nói rõ các văn bản trả lời trước đây của Cục Thuế TP không còn phù hợp với hướng dẫn tại văn bản này đều bị bãi bỏ. Trường hợp trước đây người nộp thuế thuộc đối tượng không phải truy thu thuế TNCN theo hướng dẫn trên nhưng đã tạm nộp thuế thì các chi cục thuế có văn bản thông báo đến người nộp thuế biết để làm thủ tục hồ sơ hoàn số thuế TNCN đã bị truy thu.
(Theo Thanh Niên điện tử)

Giãn thời gian tăng giá xăng dầu đến hết tháng 8

Ảnh minh hoạ.
Thông tin từ Cục Quản lý giá Bộ Tài chính cho hay, thời gian tăng giá xăng dầu sẽ được giãn đến hết tháng 8.
Trước đó, trung tuần tháng 7/2010, Bộ Tài chính đã có công văn cho phép các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu đầu mối được chủ động điều chỉnh giá xăng dầu theo Nghị định 84/CP. Theo đó, trong trường trường hợp khi giá cơ sở tăng cao hơn giá bán hiện hành trong phạm vi thuộc quyền điều chỉnh giá của doanh nghiệp, thương nhân đầu mối phải thực hiện dãn thời gian điều chỉnh giá xăng, dầu giữa 2 lần điều chỉnh tăng giá liền nhau tối thiểu là 30 ngày (theo Nghị định 84 là 10 ngày).
Cục Quản lý giá nhận định: Thị trường tháng 8 sẽ không có nhiều biến động, cung-cầu hàng hóa, dịch vụ trong nước tiếp tục ổn định. Giá nhiều nguyên vật liệu trên thị trường thế giới được dự báo dao động ở mức thấp... sẽ là yếu tố quyết định để giữ bình ổn giá thị trường tháng 8/2010...

Mặt khác, những chuyển biến tích cực về tình hình kinh tế vĩ mô 7 tháng đầu năm lãi suất cho vay của các ngân hàng thương mại tiếp tục hạ, sản xuất tiếp tục tăng tốc… là những thuận lợi, tạo đà cho phát triển sản xuất những tháng cuối năm, từ đó ổn định thị trường, giá cả.

Cũng theo Cục Quản lý giá, nếu không xảy ra những diễn biến bão lũ bất thường, bất khả kháng thì chỉ số giá tiêu dùng cả nước tháng 8 sẽ chỉ tăng nhẹ, khoảng từ 0,2-0,25% so với tháng 7.
(Theo Diễn Đàn Doanh Nghiệp)

Thứ Hai, 2 tháng 8, 2010

Luật Thuế thu nhập DN “Gỡ” chưa hết "rối”

Xem hình

Năm 2009 là dấu mốc vô cùng quan trọng đối với các doanh nghiệp Việt Nam. Các doanh nghiệp không chỉ "đau đầu" đối phó với khủng hoảng kinh tế, mà còn đối diện với sự thay đổi liên lục trong chính sách thuế. Cùng với sự thay đổi của các luật thuế, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) cũng có những thay đổi lớn đối với doanh nghiệp.

Thu nhập khác không được hưởng ưu đãi thuế TNDN

Luật Thuế TNDN ra đời từ cải cách thuế bước 2 diễn ra năm 1999. Từ đó đến nay đã có nhiều sửa đổi, nhưng vẫn luôn đề cao chính sách thu hút đầu tư bằng các chính sách ưu đãi về thuế. Theo đó, trừ những thu nhập từ hoạt động đặc thù (như chuyển nhượng vốn và chuyển nhượng bất động sản), phải hạch toán riêng không được hưởng các ưu đãi về thuế TNDN. Các thu nhập khác còn lại phát sinh trong quá trình sản xuất - kinh doanh đều hòa chung vào kết quả hoạt động sản xuất - kinh doanh để được hưởng ưu đãi theo quy định.

Tuy nhiên, theo luật thuế mới, tất các khoản thu nhập khác đều không được hưởng ưu đãi về thuế. Thông tư số 130/2008/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Luật Thuế TNDN định nghĩa thu nhập khác là các khoản thu nhập chịu thuế trong kỳ tính thuế, mà khoản thu nhập này không thuộc ngành nghề lĩnh vực có trong đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp.

Thông tư 130 cũng đưa ra danh mục các loại thu nhập khác, trong đó bao gồm thu nhập từ lãi tiền gửi, lãi cho vay vốn, chênh lệch tỷ giá, thu nhập từ thanh lý tài sản, hay các khoản nợ khó đòi đã xóa nay đòi được, hoạt động sản xuất - kinh doanh của những năm trước bị bỏ sót do doanh nghiệp phát hiện ra... Trên thực tế, những khoản thu nhập này là những thu nhập tất yếu phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khi hoạt động trong phạm vi lĩnh vực kinh doanh được cấp phép. Vì vậy, không thể coi những khoản thu nhập khác này là những thu nhập không thuộc ngành nghề lĩnh vực có trong đăng ký kinh doanh.

Thêm vào đó, tương ứng với những thu nhập này, doanh nghiệp cũng có những chi phí tương tự. Ví dụ, đối với khoản thu nhập từ lãi tiền gửi, lãi cho vay vốn, thì doanh nghiệp cũng phát sinh chi phí trả lãi tiền vay. Hay đối với chênh lệch tỷ giá phát sinh trong kỳ, tương ứng với khoản thu nhập từ lãi về chênh lệch tỷ giá là những khoản lỗ do chênh lệch tỷ giá phát sinh trong kỳ. Như vậy, có thể thấy rất rõ sự bất hợp lý là đối với cùng một hoạt động tương tự, nếu phát sinh chi phí, hoặc thua lỗ thì được hạch toán để xác định giảm thu nhập hưởng ưu đãi thuế, trong khi phần lãi (thu nhập) lại không được áp dụng những ưu đãi đó (phải tính thuế TNDN theo mức thuế suất phổ thông ngay trong kỳ phát sinh thu nhập).

Công văn 7250/BTC-TCT "gỡ" chưa hết "rối"

Sau khi Luật Thuế TNDN, Nghị định và Thông tư hướng dẫn được ban hành, hầu hết doanh nghiệp đều băn khoăn với quy định nêu trên và đã có ý kiến phản ánh lên Tổng cục Thuế và Bộ Tài chính. Để tháo gỡ những vướng mắc này, Bộ Tài chính đã ban hành Công văn số 7250/BTC-TCT ngày 7/6/2010. Công văn này hướng dẫn cách xác định một số khoản thu nhập khác như thu nhập từ lãi tiền gửi, lãi cho vay vốn, chênh lệch tỷ giá, thu nhập từ thanh lý tài sản, thu nhập về tiêu thụ phế liệu, phế phẩm, thu nhập từ hoàn nhập các khoản dự phòng.

Theo đó, khi thực hiện quyết toán thuế, phần lãi từ các hoạt động trên có thể bù trừ với phần chi phí tương ứng của hoạt động đó, hoặc việc xử lý hoàn nhập dự phòng sẽ được thực hiện theo Thông tư 228. Cách xác định đó cũng đồng nghĩa với việc một phần hoặc toàn bộ giá trị các khoản thu nhập này đã được ghi nhận giảm chi phí tương ứng khi xác định thu nhập chịu thuế và được hưởng các ưu đãi thuế. Điều này dù chưa thực sự làm thỏa đáng những băn khoăn của các doanh nghiệp, nhưng đã phản ánh sự nỗ lực của Bộ Tài chính, đặc biệt là ngành thuế trong việc tháo gỡ các vướng mắc cho doanh nghiệp, thực hiện chính sách "nuôi dưỡng nguồn thu" cho ngân sách nhà nước.

Tuy nhiên, ngoài những khoản thu nhập được hướng dẫn trong Công văn 7250/BTC-TCT nêu trên, còn nhiều khoản thu nhập khác chưa được đề cập như khoản nợ khó đòi đã xóa nay đòi được, khoản nợ phải trả không xác định được chủ nợ, thu nhập từ hoat động sản xuất - kinh doanh của những năm trước bị bỏ sót, tiền bồi thường do phạt vi phạm hợp đồng... Mặc dù các khoản thu nhập này không thường xuyên phát sinh, nhưng bản chất các khoản thu nhập đó không phải thuộc ngành nghề lĩnh vực khác đối với hầu hết doanh nghiệp. Liệu doanh nghiệp có nên tiếp tục mong đợi một công văn tương tự hướng dẫn việc thực hiện đối với các khoản thu nhập khác còn lại?

Thêm vào đó, trong khi Công văn 7250/BTC-TCT chưa giải quyết hết những khúc mắc của doanh nghiệp, thì bản thân nó lại phát sinh một số điểm chưa phù hợp như sau.

- Thứ nhất, bù trừ lãi lỗ giữa các hoạt động sản xuất - kinh doanh, quy định chưa thống nhất.

Thông tư 130/2008/TT-BTC quy định trường hợp hoạt động kinh doanh được hưởng ưu đãi thuế bị lỗ, hoạt động kinh doanh không được hưởng ưu đãi có thu nhập (hoặc ngược lại), thì doanh nghiệp bù trừ vào thu nhập chịu thuế của các hoạt động kinh doanh có thu nhập do doanh nghiệp tự lựa chọn. Với quy định này, doanh nghiệp vẫn băn khoăn, liệu có thể tùy thuộc vào kế hoạch kinh doanh của mình mà lựa chọn có bù trừ hay không, hay bắt buộc phải thực hiện bù trừ, vì theo các quy định trước đây, doanh nghiệp được lựa chọn thực hiện bù trừ?

Công văn 7250/BTC-TCT với hướng dẫn và ví dụ cụ thể đã khẳng định rằng, việc thực hiện bù trừ là bắt buộc đối với doanh nghiệp. Trong khi đó, Luật thuế TNDN hiện tại quy định các lĩnh vực hoạt động kinh doanh áp dụng các mức thuế khác nhau thì phải hạch toán riêng để xác định chính xác thu nhập chịu thuế.

Theo đó, trong suốt quá trình hoạt động kinh doanh của cả năm tài chính, doanh nghiệp thực hiện nguyên tắc hạch toán riêng từng hoạt động kinh doanh có mức thuế suất khác nhau. Nhưng đến cuối năm, khi thực hiện quyết toán thuế, nếu có hoạt động kinh doanh lãi và hoạt động lỗ lại nhập các khoản thu nhập này vào để xác định mức thu nhập chịu thuế và mức thuế suất áp dụng.

Bà Nguyễn Hồng Nhung là Chủ nhiệm cấp cao Dịch vụ thuế và tư vấn của Ernst & Young tại Hà Nội. Bà Nhung có nhiều năm kinh nghiệm hỗ trợ, tư vấn khách hàng là các công ty đa quốc gia, tập đoàn kinh tế, DN trong và ngoài nước trong lĩnh vực vận tải, bất động sản, sản xuất và dịch vụ tài chính, đưa ra các giải pháp thuế giúp khách hàng tuân thủ quy định về thuế một cách hiệu quả. Ngoài ra, bà Nhung có kinh nghiệm sâu sắc trong tư vấn thuế đối với hoạt động đầu tư.

Như vậy, có thể thấy, quy định này đã làm mất đi ý nghĩa của nguyên tắc hạch toán riêng, đồng thời tạo ra sự mâu thuẫn giữa các quy định trong cùng một đạo luật.

- Thứ hai, quy định về thời gian chuyển lỗ - doanh nghiệp mất quyền chủ động trong việc lập kế hoạch kinh doanh.

Ngoài hướng dẫn về việc bù trừ lãi lỗ, Công văn 7250/BTC-TCT còn hướng dẫn về thời gian chuyển lỗ. Theo công văn này, doanh nghiệp có các khoản lỗ phát sinh từ năm 2009 trở đi thì phải chuyển toàn bộ và liên tục số lỗ vào thu nhập chịu thuế của những năm tiếp theo, trong thời gian không quá 5 năm.

Trước đây, doanh nghiệp được phép tự quyết định số lỗ sẽ chuyển và thời gian chuyển lỗ đảm bảo không quá 5 năm kể từ năm phát sinh lỗ. Quy định này giúp doanh nghiệp chủ động lập kế hoạch chuyển lỗ sao cho phù hợp với kế hoạch kinh doanh để đạt hiệu quả cao nhất. Với quy định mới, điều này không phù hợp với xu hướng dành quyền chủ động trong kinh doanh của doanh nghiệp.

Để kiểm soát tốt hơn việc chuyển lỗ của doanh nghiệp, thiết nghĩ, nên để cho doanh nghiệp chủ động thực hiện chuyển lỗ sao cho không bị vượt quá thời hạn 5 năm kể từ năm phát sinh lỗ. Và việc chuyển lỗ của doanh nghiệp nếu đã kê khai với cơ quan thuế thì không được phép điều chỉnh lại. Quy định như vậy sẽ buộc doanh nghiệp phải nghiêm túc và có trách nhiệm hơn với việc lập kế hoạch chuyển lỗ nói riêng, kế hoạch kinh doanh nói chung của doanh nghiệp mình, nhằm đảm bảo hoạt động kinh doanh hiệu quả và lành mạnh.

Sau một kỳ quyết toán vất vả vì luật thuế thay đổi, hiện nay, với việc ban hành Công văn 7250/BTC-TCT, các doanh nghiệp lại lục tục điều chỉnh lại tờ khai quyết toán thế thu nhập doanh nghiệp theo hướng dẫn mới. Hy vọng, trong năm 2010, các văn bản hướng dẫn về thuế nói chung và đối với thuế TNDN nói riêng sẽ được hoàn thiện, tạo môi trường thuế ổn định và thuận lợi, giúp cho các doanh nghiệp yên tâm kinh doanh.

Nguyễn Hồng Nhung

(Theo Tinnhanhchungkhoan.vn)

Phí kiểm toán “đắt” hay “rẻ”?

Xem hình

Do việc kiểm toán độc lập còn mới mẻ ở Việt Nam, giá trị của công việc kiểm toán báo cáo tài chính thường được nhìn nhận đơn thuần qua bản báo cáo tài chính đã được kiểm toán.

Trong nhiều trường hợp, báo cáo kiểm toán chỉ để đáp ứng yêu cầu của đối tác hay cho "có" để tuân thủ với các quy định hiện hành. Cách nhìn còn phiến diện như vậy đã dẫn đến một thực tế là nhiều nhà quản lý doanh nghiệp chỉ cần một cuộc kiểm toán, nhanh, ít vấn đề, với chi phí thấp, mà không chú trọng đến chất lượng và giá trị thực sự của công việc kiểm toán.

Ở các nước phát triển, kiểm toán là một trong số ít nghề được nhìn nhận là một nghề chuyên nghiệp (professional). Các công ty kiểm toán có uy tín cả trong và ngoài nước hiện nay, bên cạnh việc chú trọng chất lượng của báo cáo kiểm toán, đều rất chú trọng đến việc làm gia tăng giá trị dịch vụ kiểm toán của mình và xem đó là điểm khác biệt cơ bản trong chất lượng và giá trị dịch vụ. Nhiều người ví kiểm toán độc lập của doanh nghiệp như bác sĩ trên cơ thể người với đầy đủ chức năng: phòng, khám, chẩn đoán và chữa bệnh cho doanh nghiệp. Các kiểm toán viên tận tâm, có đạo đức nghề nghiệp, trình độ, được phân bổ đủ thời gian, chi phí, sẽ có khả năng giúp đỡ doanh nghiệp trong việc tìm, đánh giá và đưa ra các giải pháp phù hợp đối với việc cải thiện các điểm yếu trong hệ thống tài chính, kế toán, kiểm soát nội bộ, quản lý hoạt động của doanh nghiệp thông qua các thư quản lý, nhằm giúp doanh nghiệp hạn chế rủi ro, nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý, sản xuất - kinh doanh.

Thư quản lý là những nhận định và khuyến nghị được kiểm toán viên gửi cho ban giám đốc, hội đồng quản trị, ban kiểm soát, nhằm trao đổi các vấn đề theo thứ tự ưu tiên quan trọng mà kiểm toán viên lưu ý trong quá trình kiểm toán, đánh giá ảnh hưởng của các vấn đề đó đối với doanh nghiệp, kiến nghị các giải pháp và ý kiến phản hồi thực tế từ đơn vị về các vấn đề đã nêu. Việc đơn vị giải quyết các điểm yếu được nêu trong thư quản lý sẽ giúp kiểm toán viên và doanh nghiệp tiết kiệm chi phí trong thủ tục kiểm toán chi tiết ở các năm tiếp theo. Đứng trên góc độ quản lý doanh nghiệp, thư quản lý là một sản phẩm chuyên môn có giá trị cao của hoạt động kiểm toán, giúp cảnh báo các nhà lãnh đạo về những lỗ hổng trong quản lý tài chính. Thư quản lý có "chất lượng", phù hợp với tình hình thực tế của doanh nghiệp, đòi hỏi người kiểm toán viên phải nắm chắc hoạt động thực tế của doanh nghiệp, các quy định, chuẩn mực và kinh nghiệm từ mô hình quản lý thực tế tối ưu của các đơn vị cùng ngành nghề. Quan trọng hơn, nó cần phải có được sự hợp tác, xây dựng niềm tin, tạo điều kiện thuận lợi trong việc tiếp cận, chia sẻ thông tin giữa những nhà quản lý doanh nghiệp và công ty kiểm toán thông qua mối quan hệ đối tác bền vững một cách chuyên nghiệp.

Hệ thống kiểm soát và quy trình quản lý của các công ty đa quốc gia hàng đầu thế giới đã được xem như là "chuẩn mực", nhưng họ vẫn luôn xem trọng những yêu cầu và đánh giá chất lượng của kiểm toán thông qua các thư quản lý. Trong thực tế, các kiểm toán viên vẫn tiếp tục phát hiện và kiến nghị các vấn đề như những lỗi trong hệ thống kiểm soát nội bộ, những điểm cải thiện tốt hơn cho hệ thống kiểm soát, nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý doanh nghiệp, những cảnh báo về tình hình tài chính, các khả năng tiết kiệm chi phí, thuế, hạn chế thất thoát tài sản… trong hệ thống vốn được coi là "chuẩn mực" đó thông qua các thư quản lý hàng năm. Trong nhiều trường hợp, lợi ích đó là hoàn toàn thực tế, có thể lượng hóa và lớn gấp hàng trăm lần chi phí kiểm toán.

Theo tiến trình hội nhập vào nền kinh tế thế giới, các chuẩn mực và hệ thống kế toán Việt Nam sẽ dần phát triển theo chuẩn mực kế toán quốc tế. Các kiểm toán viên am hiểu chuẩn mực kế toán quốc tế sẽ giúp doanh nghiệp có những bước chuẩn bị phù hợp. Báo cáo tài chính được kiểm toán bởi các công ty có uy tín, chất lượng, sẽ tạo được niềm tin của những người sử dụng như cổ đông, ngân hàng, đối tác, các cơ quan quản lý… Họ không những tin tưởng vào số liệu báo cáo tài chính mà còn tin tưởng vào tinh thần trách nhiệm của lãnh đạo doanh nghiệp, qua đó giúp doanh nghiệp dễ dàng hơn, có lợi thế hơn trong việc tiếp cận thị trường vốn (vay, phát hành cổ phiếu, trái phiếu), đấu thầu, mua bán, sáp nhập. Đặc biệt, báo cáo kiểm toán có chất lượng là yêu cầu quan trọng trong việc thực hiện các giao dịch với các đối tác nước ngoài, tiếp cận với các nguồn vốn, quảng bá hình ảnh, niêm yết ở nước ngoài - nơi đòi hỏi các báo cáo tài chính phải được lập theo các chuẩn mực kế toán quốc tế và kiểm toán cũng phải được thực hiện theo các chuẩn mực và chất lượng quốc tế.

Các công ty kiểm toán hàng đầu thế giới hoạt động ở Việt Nam phải áp dụng các quy trình kiểm soát chất lượng nghiêm ngặt, các quy trình, thủ tục kiểm toán chung của tập đoàn cho tất cả các khách hàng không phân biệt trong hay ngoài nước, lớn hay nhỏ, nhằm đảm bảo chất lượng quốc tế của mỗi cuộc kiểm toán, thỏa mãn các yêu cầu cao của doanh nghiệp và những người sử dụng báo cáo kiểm toán. Đây là một trong những nguyên do vì sao phí kiểm toán của các công ty kiểm toán độc lập có sự chênh lệch đáng kể, thậm chí cao gấp nhiều lần, song hầu hết khách hàng cả trong và ngoài nước sẵn sàng chấp nhận trả mức phí cao nhưng hợp lý của các công ty kiểm toán uy tín.

Như đã phân tích ở trên, việc chỉ nhìn vào phí kiểm toán và thay đổi công ty kiểm toán liên tục theo phí rẻ sẽ tiết kiệm một khoản chi phí nhỏ trong ngắn hạn, nhưng sẽ bỏ lỡ rất nhiều cơ hội để doanh nghiệp hiểu đúng, hoàn thiện, nâng cao giá trị của mình và sẵn sàng nắm bắt các cơ hội kinh doanh, phát triển trong tương lai.

Ông Lê Vũ Trường là Chủ nhiệm kiểm toán cao cấp của Công ty Ernst& Young Việt Nam với trên 7 năm kinh nghiệm cung cấp dịch vụ kiểm toán, tư vấn cho các công ty đa quốc gia đang hoạt động tại Việt Nam, các công ty có vốn đầu tư nước ngoài, các tổ chức tài chính, quỹ đầu tư và các doanh nghiệp hàng đầu, doanh nghiệp niêm yết ở Việt Nam như Công ty France Cables & Radio Vietnam Pte Ltd. (France Telecom); Công ty TNHH Intel Products Việt Nam; nhóm công ty TNHH, nhà máy bia Việt Nam (Tiger, Heineken, Foster, Larue, Bivina, BGI...); nhóm doanh nghiệp cổ phần như Công ty cổ phần Cơ Điện lạnh (REE), Công ty cổ phần Hữu Liên Á Châu, Công ty cổ phần Tập đoàn Vi Na (Vina Game), Công ty cổ phần Thế giới di động.

Ông có kiến thức sâu rộng về các chuẩn mực kiểm toán, kế toán Việt Nam và quốc tế, các quy định của TTCK Việt Nam.

Ông Trường là Kiểm toán viên công chứng được Bộ Tài chính Việt Nam công nhận và là hội viên Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA), Hội Kế toán công chứng Vương Quốc Anh (ACCA).

(Theo Đầu tư Chứng khoán)