Thứ Tư, 4 tháng 8, 2010

ATM Việt Nam có miễn dịch với “lỗ hổng”?

Ngoài việc bảo mật “vòng trong”, hầu hết các ngân hàng có dịch vụ ATM đều khẳng định họ còn triển khai các biện pháp an ninh “vòng ngoài” như có người bảo vệ, kiểm soát máy thường xuyên, lắp camera theo dõi 24/24 tiếng, nếu có gì bất thường tại máy sẽ báo
Công ty nghiên cứu bảo mật IOActive tại Mỹ vừa công bố đã khám phá ra hai điểm yếu nghiêm trọng của toàn bộ hệ thống máy rút tiền tự động (ATM).
“Lỗ hổng” thứ nhất là một mẫu chìa khóa để mở thành công các máy ATM cùng loại của ngân hàng và “lỗ hổng” thứ hai được cho là nằm ở hệ thống phần mềm... Cả làng ATM Việt Nam giật mình bởi lẽ hiện ở Việt Nam có tới 10.000 ATM, và 100% thiết bị này đều là hàng nhập khẩu.

Mặc dù thừa nhận một thực tế là Việt Nam cũng có tình trạng ATM chung mẫu chìa khóa, tương tự điểm yếu mà IOActive vừa công bố, song các chuyên gia trong nước cho rằng trong hai điểm yếu đã nêu, lỗ hổng về phần mềm không đáng ngại vì các ngân hàng Việt Nam đều dùng mật khẩu một lần (OTP) và áp dụng nhiều biện pháp bảo mật nghiêm ngặt.

Một chuyên gia tư vấn về máy ATM thuộc Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam thì bày tỏ quan điểm: hai “lỗ hổng” nêu ở trên không phải là mới.

Về “lỗ hổng” thứ nhất: chìa khóa khoang PC đúng là dùng chung cho tất cả máy ATM cùng loại. Điều đó đồng nghĩa với việc nếu có chìa khóa này thì có thể mở khoang chứa PC của bất kể máy ATM nào cùng loại. Tuy nhiên máy ATM luôn được thiết kế làm hai khoang riêng biệt: khoang chứa PC (phía trên) và khoang chứa các thùng tiền (4 hoặc 5 thùng) phía dưới. Khóa ở lớp cửa két sắt phía trong là khóa dạng vòng hoặc điện tử. Nếu không biết mật mã thì không thể mở khóa này được.

Hầu hết phần mềm trên máy ATM hiện nay đều có cơ chế kiểm soát thiết bị ngoại vi gắn vào bất hợp pháp và một loạt các phần mềm firewall, anti-spy, virus, cơ chế quản trị phân quyền và rất nhiều policy khác (tùy vào từng ngân hàng). Vì vậy dù có mở được khóa khoang PC thì cắm USB vào cũng không thể chạy chương trình trên USB được, trừ khi là nhân viên ngân hàng.

Trường hợp bằng cách nào đó làm cho PC nhận biết USB thì việc chạy chương trình hacker để bắt ATM trả tiền ra là không thể vì, máy ATM không có cơ chế rút tiền dạng offline mà phải có phản hồi từ máy chủ tại ngân hàng sau khi kiểm tra hàng loạt thông tin gửi lên.

Về “lỗ hổng” thứ hai, chuyên gia này phân tích, chẳng có ngân hàng nào "dại dột" để mạng nối từ ATM tới trung tâm thẻ lại hòa chung vào đường truyền Internet công cộng, chứ chưa nói gì tới việc giao dịch với các hệ thống khác qua Internet. Ngân hàng luôn thuê đường mạng riêng từ các công ty viễn thông cho việc truyền dữ liệu của mình và các kênh thanh toán khác trên Internet của ngân hàng luôn độc lập với hệ thống máy ATM, vì vậy chuyện hack từ Internet vào để bắt ATM trả tiền ra càng không thể.

Theo bà Nguyễn Thu Hà, Chủ tịch Hiệp hội Thẻ Việt Nam, Phó tổng giám đốc Ngân hàng Vietcombank, các máy ATM của Vietcombank đều được trang bị phần mềm ngăn chặn các truy cập trái phép, chống virus và không cho bất cứ các ứng dụng nào khác được tải lên ATM trừ những phần mềm định sẵn được chạy và đã được chứng thực từ hãng sản xuất ATM.

Trong khi đó, theo Phó tổng giám đốc phụ trách công nghệ của Ngân hàng VietinBank, ông Phạm Anh Tuấn, thì cả 1.700 máy ATM của ngân hàng này đều có một ổ khóa riêng. Nhưng ngay cả trường hợp đặt máy theo tiêu chuẩn chung, cũng không ảnh hưởng nhiều tới bảo mật ngân hàng vì khóa này chỉ mở khoang kỹ thuật. Còn két sắt có mật mã riêng và được thiết kế theo tiêu chuẩn bảo mật, an toàn cao nhất, dùng súng cũng không thể phá được và quá nặng để có thể khuân đi.

Mặt khác, ngoài việc bảo mật “vòng trong”, hầu hết các ngân hàng có dịch vụ ATM đều khẳng định họ còn triển khai các biện pháp an ninh “vòng ngoài” như có người bảo vệ, kiểm soát máy thường xuyên, lắp camera theo dõi 24/24 tiếng, nếu có gì bất thường tại máy sẽ báo động về trung tâm...

Việc máy ATM tại Việt Nam đang đạt độ an toàn cao và có vẻ hoàn toàn “miễn dịch” với sự cố lỗ hổng ATM như khẳng định của giới ngân hàng Việt Nam quả là một tín hiệu phấn khởi. Tuy nhiên, một số ý kiến cho rằng họ vẫn còn “gờn gợn” một điều gì đó..., khi có một thực tế là từ trước tới nay ATM tại Việt Nam vẫn hay “có vấn đề”: nào là trục trặc đường truyền, “ăn thẻ, nuốt thẻ”, rồi lại rò rỉ điện (thậm chí đã gây ra chết người!).
(Theo VnEconomy)

Tự in hóa đơn: Mừng và lo

Tổng cục Thuế cho biết, với hóa đơn đã đặt in hoặc đã mua trước 1/1/2011, Tổng cục sẽ có hướng dẫn, với tinh thần là không cần phải hủy mà sẽ được sử dụng tiếp từ 4-6 tháng, nhưng phải đăng ký với cơ quan thuế.
Sắp tới, doanh nghiệp sẽ được đăng ký để tự in hóa đơn hoặc đặt in hóa đơn với số lượng lớn. Cơ chế mới này được cho là sẽ chấm dứt tình trạng xin-cho vẫn diễn ra từ trước đến nay trong quy trình cấp và bán hóa đơn cho doanh nghiệp.
Bộ Tài chính đang xây dựng thông tư hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 51/2010/NĐ-CP ngày 14/5/2010 của Chính phủ quy định về hoá đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ. Nội dung dự thảo quy định rất nhiều vấn đề, tuy nhiên, với đặc thù của một số ngành sản xuất và dịch vụ, việc thực hiện các quy định này có thể gặp khó khăn.

Theo bà Vũ Thị Mai, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế, dự kiến Thông tư sẽ được ban hành trong tháng 8 này để doanh nghiệp kịp thời được tập huấn, phổ biến quy định mới, thiết kế mẫu hóa đơn, chọn nhà in, ký hợp đồng in hóa đơn... trong bốn tháng trước khi bắt đầu thực hiện quy định mới. Theo quy định mới, cơ quan thuế chỉ còn bán hóa đơn cho hai đối tượng là hộ kinh doanh cá thể và tổ chức không kinh doanh. Việc báo cáo sử dụng hóa đơn sẽ được thực hiện theo từng quý thay vì theo tháng như hiện nay.

Ông Cao Anh Tuấn, Vụ trưởng Vụ Chính sách (Tổng cục Thuế), nhận xét điểm hạn chế nhất khi Nhà nước bao cấp hóa đơn là doanh nghiệp không được quyền chủ động mà phải thực hiện theo cơ chế xin - cho, số lượng được bán có hạn, khi dùng hết cũng không được mua ngay. Theo cơ chế mới, tùy theo nhu cầu sử dụng, doanh nghiệp có thể đặt in hóa đơn 5-10 năm mà không cần phải đăng ký với cơ quan thuế, chỉ khi nào hóa đơn được phát hành, doanh nghiệp mới phải thông báo với cơ quan thuế.

Một điểm khá “cởi mở” của quy định này là Tổng cục Thuế không quy định mẫu hóa đơn, chỉ quy định các thông tin bắt buộc phải thể hiện. Tổng cục Thuế sẽ đưa ra mẫu tham khảo. Vì vậy, doanh nghiệp có quyền in thêm các thông tin quảng cáo hoặc logo công ty. Thêm vào đó, doanh nghiệp không cần phải gửi mẫu để cơ quan thuế duyệt trước khi in như hiện nay. Những doanh nghiệp đã đặt in vẫn có thể tiếp tục sử dụng mẫu cũ.

Tổng cục Thuế cho biết, với hóa đơn đã đặt in hoặc đã mua trước 1/1/2011, Tổng cục sẽ có hướng dẫn, với tinh thần là không cần phải hủy mà sẽ được sử dụng tiếp từ 4-6 tháng, nhưng phải đăng ký với cơ quan thuế. Hiện cả nước có hơn 350.000 doanh nghiệp thuộc diện tự in hoặc đặt in hóa đơn, trong đó, chỉ có khoảng 10.000 doanh nghiệp đã quen với tự in hoặc đặt in hóa đơn.

Dù vậy, dự thảo thông tư cũng có những điểm khiến doanh nghiệp thắc mắc.

Chẳng hạn như yêu cầu: “Ngày lập hoá đơn là ngày người bán và người mua làm thủ tục ghi nhận hàng hoá, dịch vụ đã được chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng. Các trường hợp pháp luật quy định chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký thì ngày lập hoá đơn là ngày bàn giao hàng hoá”. Với những doanh nghiệp bán hàng đi tỉnh xa, ngày xuất hàng và ngày giao hàng có thể cách xa nhau. Đối với doanh nghiệp xuất khẩu, ngày lập hoá đơn đối với hàng hoá xuất khẩu là ngày làm xong thủ tục cho hàng hoá xuất khẩu. Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp xuất khẩu lập hóa đơn xong phải mất một, hai ngày hải quan mới cho thông quan.

Công ty Mai Linh cho biết, hiện công ty đang sử dụng hóa đơn tự in bằng giấy in liên tục, hàng tháng công ty xuất ra đến trên 10.000 vé và không yêu cầu người sử dụng dịch vụ phải ký tên lên hóa đơn. Đại diện công ty nêu thắc mắc: “Với quy định mới, tới đây khi xuất vé tài xế có phải yêu cầu khách hàng ký tên thì hóa đơn mới hợp pháp không?”.

Dự thảo thông tư cũng yêu cầu việc xuất hóa đơn phải có con dấu và chữ ký của giám đốc. Tuy nhiên, với những đơn vị có nhiều chi nhánh, để làm được việc xuất hóa đơn theo ngày, các chi nhánh phải cắt cử người chuyên làm công việc “đóng dấu”. Với đơn vị kinh doanh lớn, xuất nhiều hóa đơn, nếu bắt buộc đóng dấu tất cả hóa đơn thì rất khó cho doanh nghiệp. Đặc biệt với những đơn vị có nhiều chi nhánh, vì như vậy phải về trụ sở chính xin đóng dấu lên hóa đơn.

Đại diện Bệnh viện Phụ sản quốc tế Sài Gòn nêu quan điểm, việc cấp hóa đơn theo ngày khó khả thi đối với các cơ sở y tế vì mỗi ngày bệnh viện đón tiếp hàng nghìn bệnh nhân, nhưng rất nhiều trường hợp 15 ngày sau mới quay lại xin hóa đơn, và người mua hàng thường không phải là người ký trong hóa đơn, nên dễ dẫn đến sai thông tin.

Một số ý kiến cũng lo ngại về tình trạng làm giả hóa đơn vì doanh nghiệp sẽ phải chịu trách nhiệm về số lượng hóa đơn mang tên công ty mình. Do đó, có ý kiến cho rằng Tổng cục Thuế nên xem xét việc cấp phép cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực in hóa đơn.

Tổng cục Thuế cho biết, đối với những trường hợp giao dịch qua điện tử sẽ có hóa đơn điện tử. Tổng cục đang lấy ý kiến về những thông tin liên quan đến giao dịch điện tử và sẽ có một thông tư riêng về loại hóa đơn này.
(Theo VnEconomy)

Thứ Ba, 3 tháng 8, 2010

Tỷ giá hạch toán ngoại tệ tháng 8

Ảnh minh hoạ.
Theo thông báo mới ban hành hôm qua, 2/8/2010, của Kho bạc Nhà nước, tỷ giá hạch toán giữa đồng Việt Nam (VND) với đồng đô la Mỹ (USD) tháng 8/2010 là 18.544 đồng.
Cũng theo thông báo này, tỷ giá của VND với đồng euro của Châu Âu là 24.209 đồng; với đồng nhân dân tệ của Trung Quốc là 2.739 đồng; đồng yên của Nhật Bản là 215; đồng bạt của Thái Lan là 575 đồng;…
Tỷ giá này được áp dụng trong các nghiệp vụ: Quy đổi và hạch toán thu chi ngân sách Nhà nước bằng ngoại tệ, kể cả các khoản thu bằng hiện vật có gốc bằng ngoại tệ; Quy đổi và hạch toán sổ sách kế toán của Kho bạc Nhà nước.

TP.HCM: Hướng dẫn mới về thuế thu nhập cá nhân với bất động sản

Cục Thuế TP.HCM vừa có văn bản hướng dẫn mới về thuế thu nhập cá nhân (TNCN) với chuyển nhượng bất động sản. Theo đó, cơ quan thuế sẽ không truy thu thuế TNCN của lần chuyển nhượng cuối cùng với trường hợp người sử dụng đất chưa có giấy tờ hợp lệ về nhà đất nay nộp hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Trường hợp nhà đất đã có giấy tờ hợp lệ, người sử dụng đất nhận chuyển nhượng trước ngày 1-1-2009 nay nộp hồ sơ hợp lệ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên người nhận chuyển nhượng cuối cùng thì chỉ truy thu một lần thuế TNCN của lần chuyển nhượng cuối cùng.
Trường hợp lần chuyển nhượng cuối cùng có hợp đồng công chứng, có chứng nhận do nhận chuyển nhượng hoặc thừa kế của các đối tượng được miễn thuế như giữa vợ với chồng; giữa cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ, giữa cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi; giữa cha chồng, mẹ chồng với con dâu; giữa cha vợ, mẹ vợ với con rể; giữa ông nội, bà nội với cháu nội, giữa ông ngoại, bà ngoại với cháu ngoại; giữa anh chị em ruột với nhau thì được miễn thuế TNCN. Trường hợp lần chuyển nhượng cuối cùng bao gồm cả tài sản trên đất thì việc truy thu thuế TNCN lần chuyển nhượng cuối cùng được tính cả tài sản trên đất.
Cục Thuế cũng nói rõ các văn bản trả lời trước đây của Cục Thuế TP không còn phù hợp với hướng dẫn tại văn bản này đều bị bãi bỏ. Trường hợp trước đây người nộp thuế thuộc đối tượng không phải truy thu thuế TNCN theo hướng dẫn trên nhưng đã tạm nộp thuế thì các chi cục thuế có văn bản thông báo đến người nộp thuế biết để làm thủ tục hồ sơ hoàn số thuế TNCN đã bị truy thu.
(Theo Thanh Niên điện tử)

Giãn thời gian tăng giá xăng dầu đến hết tháng 8

Ảnh minh hoạ.
Thông tin từ Cục Quản lý giá Bộ Tài chính cho hay, thời gian tăng giá xăng dầu sẽ được giãn đến hết tháng 8.
Trước đó, trung tuần tháng 7/2010, Bộ Tài chính đã có công văn cho phép các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu đầu mối được chủ động điều chỉnh giá xăng dầu theo Nghị định 84/CP. Theo đó, trong trường trường hợp khi giá cơ sở tăng cao hơn giá bán hiện hành trong phạm vi thuộc quyền điều chỉnh giá của doanh nghiệp, thương nhân đầu mối phải thực hiện dãn thời gian điều chỉnh giá xăng, dầu giữa 2 lần điều chỉnh tăng giá liền nhau tối thiểu là 30 ngày (theo Nghị định 84 là 10 ngày).
Cục Quản lý giá nhận định: Thị trường tháng 8 sẽ không có nhiều biến động, cung-cầu hàng hóa, dịch vụ trong nước tiếp tục ổn định. Giá nhiều nguyên vật liệu trên thị trường thế giới được dự báo dao động ở mức thấp... sẽ là yếu tố quyết định để giữ bình ổn giá thị trường tháng 8/2010...

Mặt khác, những chuyển biến tích cực về tình hình kinh tế vĩ mô 7 tháng đầu năm lãi suất cho vay của các ngân hàng thương mại tiếp tục hạ, sản xuất tiếp tục tăng tốc… là những thuận lợi, tạo đà cho phát triển sản xuất những tháng cuối năm, từ đó ổn định thị trường, giá cả.

Cũng theo Cục Quản lý giá, nếu không xảy ra những diễn biến bão lũ bất thường, bất khả kháng thì chỉ số giá tiêu dùng cả nước tháng 8 sẽ chỉ tăng nhẹ, khoảng từ 0,2-0,25% so với tháng 7.
(Theo Diễn Đàn Doanh Nghiệp)

Thứ Hai, 2 tháng 8, 2010

Luật Thuế thu nhập DN “Gỡ” chưa hết "rối”

Xem hình

Năm 2009 là dấu mốc vô cùng quan trọng đối với các doanh nghiệp Việt Nam. Các doanh nghiệp không chỉ "đau đầu" đối phó với khủng hoảng kinh tế, mà còn đối diện với sự thay đổi liên lục trong chính sách thuế. Cùng với sự thay đổi của các luật thuế, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) cũng có những thay đổi lớn đối với doanh nghiệp.

Thu nhập khác không được hưởng ưu đãi thuế TNDN

Luật Thuế TNDN ra đời từ cải cách thuế bước 2 diễn ra năm 1999. Từ đó đến nay đã có nhiều sửa đổi, nhưng vẫn luôn đề cao chính sách thu hút đầu tư bằng các chính sách ưu đãi về thuế. Theo đó, trừ những thu nhập từ hoạt động đặc thù (như chuyển nhượng vốn và chuyển nhượng bất động sản), phải hạch toán riêng không được hưởng các ưu đãi về thuế TNDN. Các thu nhập khác còn lại phát sinh trong quá trình sản xuất - kinh doanh đều hòa chung vào kết quả hoạt động sản xuất - kinh doanh để được hưởng ưu đãi theo quy định.

Tuy nhiên, theo luật thuế mới, tất các khoản thu nhập khác đều không được hưởng ưu đãi về thuế. Thông tư số 130/2008/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Luật Thuế TNDN định nghĩa thu nhập khác là các khoản thu nhập chịu thuế trong kỳ tính thuế, mà khoản thu nhập này không thuộc ngành nghề lĩnh vực có trong đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp.

Thông tư 130 cũng đưa ra danh mục các loại thu nhập khác, trong đó bao gồm thu nhập từ lãi tiền gửi, lãi cho vay vốn, chênh lệch tỷ giá, thu nhập từ thanh lý tài sản, hay các khoản nợ khó đòi đã xóa nay đòi được, hoạt động sản xuất - kinh doanh của những năm trước bị bỏ sót do doanh nghiệp phát hiện ra... Trên thực tế, những khoản thu nhập này là những thu nhập tất yếu phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khi hoạt động trong phạm vi lĩnh vực kinh doanh được cấp phép. Vì vậy, không thể coi những khoản thu nhập khác này là những thu nhập không thuộc ngành nghề lĩnh vực có trong đăng ký kinh doanh.

Thêm vào đó, tương ứng với những thu nhập này, doanh nghiệp cũng có những chi phí tương tự. Ví dụ, đối với khoản thu nhập từ lãi tiền gửi, lãi cho vay vốn, thì doanh nghiệp cũng phát sinh chi phí trả lãi tiền vay. Hay đối với chênh lệch tỷ giá phát sinh trong kỳ, tương ứng với khoản thu nhập từ lãi về chênh lệch tỷ giá là những khoản lỗ do chênh lệch tỷ giá phát sinh trong kỳ. Như vậy, có thể thấy rất rõ sự bất hợp lý là đối với cùng một hoạt động tương tự, nếu phát sinh chi phí, hoặc thua lỗ thì được hạch toán để xác định giảm thu nhập hưởng ưu đãi thuế, trong khi phần lãi (thu nhập) lại không được áp dụng những ưu đãi đó (phải tính thuế TNDN theo mức thuế suất phổ thông ngay trong kỳ phát sinh thu nhập).

Công văn 7250/BTC-TCT "gỡ" chưa hết "rối"

Sau khi Luật Thuế TNDN, Nghị định và Thông tư hướng dẫn được ban hành, hầu hết doanh nghiệp đều băn khoăn với quy định nêu trên và đã có ý kiến phản ánh lên Tổng cục Thuế và Bộ Tài chính. Để tháo gỡ những vướng mắc này, Bộ Tài chính đã ban hành Công văn số 7250/BTC-TCT ngày 7/6/2010. Công văn này hướng dẫn cách xác định một số khoản thu nhập khác như thu nhập từ lãi tiền gửi, lãi cho vay vốn, chênh lệch tỷ giá, thu nhập từ thanh lý tài sản, thu nhập về tiêu thụ phế liệu, phế phẩm, thu nhập từ hoàn nhập các khoản dự phòng.

Theo đó, khi thực hiện quyết toán thuế, phần lãi từ các hoạt động trên có thể bù trừ với phần chi phí tương ứng của hoạt động đó, hoặc việc xử lý hoàn nhập dự phòng sẽ được thực hiện theo Thông tư 228. Cách xác định đó cũng đồng nghĩa với việc một phần hoặc toàn bộ giá trị các khoản thu nhập này đã được ghi nhận giảm chi phí tương ứng khi xác định thu nhập chịu thuế và được hưởng các ưu đãi thuế. Điều này dù chưa thực sự làm thỏa đáng những băn khoăn của các doanh nghiệp, nhưng đã phản ánh sự nỗ lực của Bộ Tài chính, đặc biệt là ngành thuế trong việc tháo gỡ các vướng mắc cho doanh nghiệp, thực hiện chính sách "nuôi dưỡng nguồn thu" cho ngân sách nhà nước.

Tuy nhiên, ngoài những khoản thu nhập được hướng dẫn trong Công văn 7250/BTC-TCT nêu trên, còn nhiều khoản thu nhập khác chưa được đề cập như khoản nợ khó đòi đã xóa nay đòi được, khoản nợ phải trả không xác định được chủ nợ, thu nhập từ hoat động sản xuất - kinh doanh của những năm trước bị bỏ sót, tiền bồi thường do phạt vi phạm hợp đồng... Mặc dù các khoản thu nhập này không thường xuyên phát sinh, nhưng bản chất các khoản thu nhập đó không phải thuộc ngành nghề lĩnh vực khác đối với hầu hết doanh nghiệp. Liệu doanh nghiệp có nên tiếp tục mong đợi một công văn tương tự hướng dẫn việc thực hiện đối với các khoản thu nhập khác còn lại?

Thêm vào đó, trong khi Công văn 7250/BTC-TCT chưa giải quyết hết những khúc mắc của doanh nghiệp, thì bản thân nó lại phát sinh một số điểm chưa phù hợp như sau.

- Thứ nhất, bù trừ lãi lỗ giữa các hoạt động sản xuất - kinh doanh, quy định chưa thống nhất.

Thông tư 130/2008/TT-BTC quy định trường hợp hoạt động kinh doanh được hưởng ưu đãi thuế bị lỗ, hoạt động kinh doanh không được hưởng ưu đãi có thu nhập (hoặc ngược lại), thì doanh nghiệp bù trừ vào thu nhập chịu thuế của các hoạt động kinh doanh có thu nhập do doanh nghiệp tự lựa chọn. Với quy định này, doanh nghiệp vẫn băn khoăn, liệu có thể tùy thuộc vào kế hoạch kinh doanh của mình mà lựa chọn có bù trừ hay không, hay bắt buộc phải thực hiện bù trừ, vì theo các quy định trước đây, doanh nghiệp được lựa chọn thực hiện bù trừ?

Công văn 7250/BTC-TCT với hướng dẫn và ví dụ cụ thể đã khẳng định rằng, việc thực hiện bù trừ là bắt buộc đối với doanh nghiệp. Trong khi đó, Luật thuế TNDN hiện tại quy định các lĩnh vực hoạt động kinh doanh áp dụng các mức thuế khác nhau thì phải hạch toán riêng để xác định chính xác thu nhập chịu thuế.

Theo đó, trong suốt quá trình hoạt động kinh doanh của cả năm tài chính, doanh nghiệp thực hiện nguyên tắc hạch toán riêng từng hoạt động kinh doanh có mức thuế suất khác nhau. Nhưng đến cuối năm, khi thực hiện quyết toán thuế, nếu có hoạt động kinh doanh lãi và hoạt động lỗ lại nhập các khoản thu nhập này vào để xác định mức thu nhập chịu thuế và mức thuế suất áp dụng.

Bà Nguyễn Hồng Nhung là Chủ nhiệm cấp cao Dịch vụ thuế và tư vấn của Ernst & Young tại Hà Nội. Bà Nhung có nhiều năm kinh nghiệm hỗ trợ, tư vấn khách hàng là các công ty đa quốc gia, tập đoàn kinh tế, DN trong và ngoài nước trong lĩnh vực vận tải, bất động sản, sản xuất và dịch vụ tài chính, đưa ra các giải pháp thuế giúp khách hàng tuân thủ quy định về thuế một cách hiệu quả. Ngoài ra, bà Nhung có kinh nghiệm sâu sắc trong tư vấn thuế đối với hoạt động đầu tư.

Như vậy, có thể thấy, quy định này đã làm mất đi ý nghĩa của nguyên tắc hạch toán riêng, đồng thời tạo ra sự mâu thuẫn giữa các quy định trong cùng một đạo luật.

- Thứ hai, quy định về thời gian chuyển lỗ - doanh nghiệp mất quyền chủ động trong việc lập kế hoạch kinh doanh.

Ngoài hướng dẫn về việc bù trừ lãi lỗ, Công văn 7250/BTC-TCT còn hướng dẫn về thời gian chuyển lỗ. Theo công văn này, doanh nghiệp có các khoản lỗ phát sinh từ năm 2009 trở đi thì phải chuyển toàn bộ và liên tục số lỗ vào thu nhập chịu thuế của những năm tiếp theo, trong thời gian không quá 5 năm.

Trước đây, doanh nghiệp được phép tự quyết định số lỗ sẽ chuyển và thời gian chuyển lỗ đảm bảo không quá 5 năm kể từ năm phát sinh lỗ. Quy định này giúp doanh nghiệp chủ động lập kế hoạch chuyển lỗ sao cho phù hợp với kế hoạch kinh doanh để đạt hiệu quả cao nhất. Với quy định mới, điều này không phù hợp với xu hướng dành quyền chủ động trong kinh doanh của doanh nghiệp.

Để kiểm soát tốt hơn việc chuyển lỗ của doanh nghiệp, thiết nghĩ, nên để cho doanh nghiệp chủ động thực hiện chuyển lỗ sao cho không bị vượt quá thời hạn 5 năm kể từ năm phát sinh lỗ. Và việc chuyển lỗ của doanh nghiệp nếu đã kê khai với cơ quan thuế thì không được phép điều chỉnh lại. Quy định như vậy sẽ buộc doanh nghiệp phải nghiêm túc và có trách nhiệm hơn với việc lập kế hoạch chuyển lỗ nói riêng, kế hoạch kinh doanh nói chung của doanh nghiệp mình, nhằm đảm bảo hoạt động kinh doanh hiệu quả và lành mạnh.

Sau một kỳ quyết toán vất vả vì luật thuế thay đổi, hiện nay, với việc ban hành Công văn 7250/BTC-TCT, các doanh nghiệp lại lục tục điều chỉnh lại tờ khai quyết toán thế thu nhập doanh nghiệp theo hướng dẫn mới. Hy vọng, trong năm 2010, các văn bản hướng dẫn về thuế nói chung và đối với thuế TNDN nói riêng sẽ được hoàn thiện, tạo môi trường thuế ổn định và thuận lợi, giúp cho các doanh nghiệp yên tâm kinh doanh.

Nguyễn Hồng Nhung

(Theo Tinnhanhchungkhoan.vn)

Phí kiểm toán “đắt” hay “rẻ”?

Xem hình

Do việc kiểm toán độc lập còn mới mẻ ở Việt Nam, giá trị của công việc kiểm toán báo cáo tài chính thường được nhìn nhận đơn thuần qua bản báo cáo tài chính đã được kiểm toán.

Trong nhiều trường hợp, báo cáo kiểm toán chỉ để đáp ứng yêu cầu của đối tác hay cho "có" để tuân thủ với các quy định hiện hành. Cách nhìn còn phiến diện như vậy đã dẫn đến một thực tế là nhiều nhà quản lý doanh nghiệp chỉ cần một cuộc kiểm toán, nhanh, ít vấn đề, với chi phí thấp, mà không chú trọng đến chất lượng và giá trị thực sự của công việc kiểm toán.

Ở các nước phát triển, kiểm toán là một trong số ít nghề được nhìn nhận là một nghề chuyên nghiệp (professional). Các công ty kiểm toán có uy tín cả trong và ngoài nước hiện nay, bên cạnh việc chú trọng chất lượng của báo cáo kiểm toán, đều rất chú trọng đến việc làm gia tăng giá trị dịch vụ kiểm toán của mình và xem đó là điểm khác biệt cơ bản trong chất lượng và giá trị dịch vụ. Nhiều người ví kiểm toán độc lập của doanh nghiệp như bác sĩ trên cơ thể người với đầy đủ chức năng: phòng, khám, chẩn đoán và chữa bệnh cho doanh nghiệp. Các kiểm toán viên tận tâm, có đạo đức nghề nghiệp, trình độ, được phân bổ đủ thời gian, chi phí, sẽ có khả năng giúp đỡ doanh nghiệp trong việc tìm, đánh giá và đưa ra các giải pháp phù hợp đối với việc cải thiện các điểm yếu trong hệ thống tài chính, kế toán, kiểm soát nội bộ, quản lý hoạt động của doanh nghiệp thông qua các thư quản lý, nhằm giúp doanh nghiệp hạn chế rủi ro, nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý, sản xuất - kinh doanh.

Thư quản lý là những nhận định và khuyến nghị được kiểm toán viên gửi cho ban giám đốc, hội đồng quản trị, ban kiểm soát, nhằm trao đổi các vấn đề theo thứ tự ưu tiên quan trọng mà kiểm toán viên lưu ý trong quá trình kiểm toán, đánh giá ảnh hưởng của các vấn đề đó đối với doanh nghiệp, kiến nghị các giải pháp và ý kiến phản hồi thực tế từ đơn vị về các vấn đề đã nêu. Việc đơn vị giải quyết các điểm yếu được nêu trong thư quản lý sẽ giúp kiểm toán viên và doanh nghiệp tiết kiệm chi phí trong thủ tục kiểm toán chi tiết ở các năm tiếp theo. Đứng trên góc độ quản lý doanh nghiệp, thư quản lý là một sản phẩm chuyên môn có giá trị cao của hoạt động kiểm toán, giúp cảnh báo các nhà lãnh đạo về những lỗ hổng trong quản lý tài chính. Thư quản lý có "chất lượng", phù hợp với tình hình thực tế của doanh nghiệp, đòi hỏi người kiểm toán viên phải nắm chắc hoạt động thực tế của doanh nghiệp, các quy định, chuẩn mực và kinh nghiệm từ mô hình quản lý thực tế tối ưu của các đơn vị cùng ngành nghề. Quan trọng hơn, nó cần phải có được sự hợp tác, xây dựng niềm tin, tạo điều kiện thuận lợi trong việc tiếp cận, chia sẻ thông tin giữa những nhà quản lý doanh nghiệp và công ty kiểm toán thông qua mối quan hệ đối tác bền vững một cách chuyên nghiệp.

Hệ thống kiểm soát và quy trình quản lý của các công ty đa quốc gia hàng đầu thế giới đã được xem như là "chuẩn mực", nhưng họ vẫn luôn xem trọng những yêu cầu và đánh giá chất lượng của kiểm toán thông qua các thư quản lý. Trong thực tế, các kiểm toán viên vẫn tiếp tục phát hiện và kiến nghị các vấn đề như những lỗi trong hệ thống kiểm soát nội bộ, những điểm cải thiện tốt hơn cho hệ thống kiểm soát, nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý doanh nghiệp, những cảnh báo về tình hình tài chính, các khả năng tiết kiệm chi phí, thuế, hạn chế thất thoát tài sản… trong hệ thống vốn được coi là "chuẩn mực" đó thông qua các thư quản lý hàng năm. Trong nhiều trường hợp, lợi ích đó là hoàn toàn thực tế, có thể lượng hóa và lớn gấp hàng trăm lần chi phí kiểm toán.

Theo tiến trình hội nhập vào nền kinh tế thế giới, các chuẩn mực và hệ thống kế toán Việt Nam sẽ dần phát triển theo chuẩn mực kế toán quốc tế. Các kiểm toán viên am hiểu chuẩn mực kế toán quốc tế sẽ giúp doanh nghiệp có những bước chuẩn bị phù hợp. Báo cáo tài chính được kiểm toán bởi các công ty có uy tín, chất lượng, sẽ tạo được niềm tin của những người sử dụng như cổ đông, ngân hàng, đối tác, các cơ quan quản lý… Họ không những tin tưởng vào số liệu báo cáo tài chính mà còn tin tưởng vào tinh thần trách nhiệm của lãnh đạo doanh nghiệp, qua đó giúp doanh nghiệp dễ dàng hơn, có lợi thế hơn trong việc tiếp cận thị trường vốn (vay, phát hành cổ phiếu, trái phiếu), đấu thầu, mua bán, sáp nhập. Đặc biệt, báo cáo kiểm toán có chất lượng là yêu cầu quan trọng trong việc thực hiện các giao dịch với các đối tác nước ngoài, tiếp cận với các nguồn vốn, quảng bá hình ảnh, niêm yết ở nước ngoài - nơi đòi hỏi các báo cáo tài chính phải được lập theo các chuẩn mực kế toán quốc tế và kiểm toán cũng phải được thực hiện theo các chuẩn mực và chất lượng quốc tế.

Các công ty kiểm toán hàng đầu thế giới hoạt động ở Việt Nam phải áp dụng các quy trình kiểm soát chất lượng nghiêm ngặt, các quy trình, thủ tục kiểm toán chung của tập đoàn cho tất cả các khách hàng không phân biệt trong hay ngoài nước, lớn hay nhỏ, nhằm đảm bảo chất lượng quốc tế của mỗi cuộc kiểm toán, thỏa mãn các yêu cầu cao của doanh nghiệp và những người sử dụng báo cáo kiểm toán. Đây là một trong những nguyên do vì sao phí kiểm toán của các công ty kiểm toán độc lập có sự chênh lệch đáng kể, thậm chí cao gấp nhiều lần, song hầu hết khách hàng cả trong và ngoài nước sẵn sàng chấp nhận trả mức phí cao nhưng hợp lý của các công ty kiểm toán uy tín.

Như đã phân tích ở trên, việc chỉ nhìn vào phí kiểm toán và thay đổi công ty kiểm toán liên tục theo phí rẻ sẽ tiết kiệm một khoản chi phí nhỏ trong ngắn hạn, nhưng sẽ bỏ lỡ rất nhiều cơ hội để doanh nghiệp hiểu đúng, hoàn thiện, nâng cao giá trị của mình và sẵn sàng nắm bắt các cơ hội kinh doanh, phát triển trong tương lai.

Ông Lê Vũ Trường là Chủ nhiệm kiểm toán cao cấp của Công ty Ernst& Young Việt Nam với trên 7 năm kinh nghiệm cung cấp dịch vụ kiểm toán, tư vấn cho các công ty đa quốc gia đang hoạt động tại Việt Nam, các công ty có vốn đầu tư nước ngoài, các tổ chức tài chính, quỹ đầu tư và các doanh nghiệp hàng đầu, doanh nghiệp niêm yết ở Việt Nam như Công ty France Cables & Radio Vietnam Pte Ltd. (France Telecom); Công ty TNHH Intel Products Việt Nam; nhóm công ty TNHH, nhà máy bia Việt Nam (Tiger, Heineken, Foster, Larue, Bivina, BGI...); nhóm doanh nghiệp cổ phần như Công ty cổ phần Cơ Điện lạnh (REE), Công ty cổ phần Hữu Liên Á Châu, Công ty cổ phần Tập đoàn Vi Na (Vina Game), Công ty cổ phần Thế giới di động.

Ông có kiến thức sâu rộng về các chuẩn mực kiểm toán, kế toán Việt Nam và quốc tế, các quy định của TTCK Việt Nam.

Ông Trường là Kiểm toán viên công chứng được Bộ Tài chính Việt Nam công nhận và là hội viên Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA), Hội Kế toán công chứng Vương Quốc Anh (ACCA).

(Theo Đầu tư Chứng khoán)

Hệ số vòng quay các khoản phải thu - Account Receivable Turnover Ratio

Vòng quay các khoản phải thu phản ánh tốc độ biến đổi các khoản phải thu thành tiền mặt. Hệ số này là một thước đo quan trọng để đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, được tính bằng cách lấy doanh thu trong kỳ chia cho số dư bình quân các khoản phải thu trong kỳ.

Vòng quay các khoản phải thu = Doanh thu / bình quân các khoản phải thu

Khoản tiền phải thu từ khách hàng là số tiền mà khách hàng hiện tại vẫn còn chiếm dụng của doanh nghiệp. Chỉ đến khi khách hàng thanh toán bằng tiền cho khoản phải thu này thì coi như lượng vốn mà doanh nghiệp bị khách hàng chiếm dụng mới không còn nữa.

Việc chiếm dụng vốn này thoạt nhìn không mấy quan trọng, vì theo logic thông thường, khách hàng nợ rồi khách hàng cũng sẽ phải trả cho doanh nghiệp, không trả lúc này thì trả lúc khác, cuối cùng thì tiền vẫn thuộc về doanh nghiệp. Tuy nhiên, vấn đề sẽ trở nên nghiêm trọng nếu khách hàng chiếm dụng ngày càng cao, trong khi đó do yêu cầu của thị trường, doanh nghiệp cần tăng lượng hàng sản xuất, điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải tăng mua nguyên vật liệu, kéo theo yêu cầu phải có lượng tiền nhiều hơn, trong khi thời điểm đó lượng tiền của doanh nghiệp không đủ và đáng ra nếu khách hàng thanh toán những khoản nợ với doanh nghiệp thì doanh nghiệp sẽ có đủ số tiền cần thiết để mua đủ số lượng nguyên vật liệu theo yêu cầu. Do đó, trong trường hợp này, doanh nghiệp phải đi vay ngân hàng để bổ sung vào lượng tiền hiện có hoặc chỉ sản xuất với số lượng tương ứng với số lượng nguyên vật liệu được mua vào từ số tiền hiện có của doanh nghiệp, điều này đương nhiên sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.

Để tính toán hệ số này chính xác hơn, người ta dùng doanh thu không thanh toán ngay trong kỳ thay cho doanh thu trong kỳ. Số dư bình quân các khoản phải thu trong kỳ được tính bằng cách lấy trung bình của số dư đầu kỳ các khoản phải thu của tháng đầu tiên, số dư cuối kỳ các khoản phải thu của tháng đầu tiên và số dư cuối kỳ các khoản phải thu của các tháng tiếp theo trong kỳ. Nếu không có số liệu về số dư các khoản phải thu hàng tháng, có thể thay số dư bình quân các khoản phải thu bằng số dư cuối kỳ các khoản phải thu.

Nói chung, hệ số vòng quay các khoản phải thu càng lớn chứng tỏ tốc độ thu hồi nợ của doanh nghiệp càng nhanh, khả năng chuyển đổi các khoản nợ phải thu sang tiền mặt cao, điều này giúp cho doanh nghiệp nâng cao luồng tiền mặt, tạo ra sự chủ động trong việc tài trợ nguồn vốn lưu động trong sản xuất. Ngược lại, nếu hệ số này càng thấp thì số tiền của doanh nghiệp bị chiếm dụng ngày càng nhiều, lượng tiền mặt sẽ ngày càng giảm, làm giảm sự chủ động của doanh nghiệp trong việc tài trợ nguồn vốn lưu động trong sản xuất và có thể doanh nghiệp sẽ phải đi vay ngân hàng để tài trợ thêm cho nguồn vốn lưu động này.

Từ chỉ số vòng quay các khoản phải thu ta tính được hệ số ngày thu tiền bình quân bằng cách lấy số ngày trong kỳ chia cho vòng quay các khoản phải thu. Ngược lại với chỉ số vòng quay các khoản phải thu, chỉ số ngày thu tiền bình quân càng nhỏ thì tốc độ thu hồi công nợ phải thu của doanh nghiệp càng nhanh.

Trong mỗi ngành khác nhau thì chỉ số này cũng khác nhau và để đánh giá hiệu quả quản lý của doanh nghiệp, cần so sánh hệ số
ngày thu tiền bình quân với số ngày thanh toán cho các khoản công nợ phải thu mà doanh nghiệp đó quy định.

Hệ số vòng quay hàng tồn kho - Inventory Turnover Ratio

Hệ số vòng quay hàng tồn kho thể hiện khả năng quản trị hàng tồn kho. Vòng quay hàng tồn kho là số lần mà hàng hóa tồn kho bình quân luân chuyển trong kỳ. Hệ số vòng quay hàng tồn kho được xác định bằng giá vốn hàng bán chia cho bình quân hàng tồn kho.

Trong đó


Hệ số vòng quay hàng tồn kho cũng được tính cho 4 quý gần nhất theo công thức sau:



Trong đó


Hệ số vòng quay hàng tồn kho thường được so sánh qua các năm để đánh giá năng lực quản trị hàng tồn kho là tốt hay xấu qua từng năm. Hệ số này lớn cho thấy tốc độ quay vòng của hàng hóa trong kho là nhanh và ngược lại, nếu hệ số này nhỏ thì tốc độ quay vòng hàng tồn kho thấp. Cần lưu ý, hàng tồn kho mang đậm tính chất ngành nghề kinh doanh nên không phải cứ mức tồn kho thấp là tốt, mức tồn kho cao là xấu.

Hệ số vòng quay hàng tồn kho càng cao càng cho thấy doanh nghiệp bán hàng nhanh và hàng tồn kho không bị ứ đọng nhiều. Có nghĩa là
doanh nghiệp sẽ ít rủi ro hơn nếu khoản mục hàng tồn kho trong báo cáo tài chính có giá trị giảm qua các năm.

Tuy nhiên, hệ số này quá cao cũng không tốt, vì như vậy có nghĩa là lượng hàng dự trữ trong kho không nhiều, nếu nhu cầu thị trường tăng đột ngột thì rất có khả năng
doanh nghiệp bị mất khách hàng và bị đối thủ cạnh tranh giành thị phần. Hơn nữa, dự trữ nguyên liệu vật liệu đầu vào cho các khâu sản xuất không đủ có thể khiến dây chuyền sản xuất bị ngưng trệ. Vì vậy, hệ số vòng quay hàng tồn kho cần phải đủ lớn để đảm bảo mức độ sản xuất và đáp ứng được nhu cầu khách hàng.

Để có thể đánh giá tình hình tài chính
doanh nghiệp, việc xem xét chỉ tiêu hàng tồn kho cần được đánh giá bên cạnh các chỉ tiêu khác như lợi nhuận, doanh thu, vòng quay của dòng tiền…, cũng như nên được đặt trong điều kiện kinh tế vĩ mô, điều kiện thực tế của từng doanh nghiệp

Hệ số vòng quay tổng tài sản - Asset Turnover Ratio

Hệ số vòng quay tổng tài sản dùng để đánh giá hiệu quả của việc sử dụng tài sản của công ty. Thông qua hệ số này chúng ta có thể biết được với mỗi một đồng tài sản có bao nhiêu đồng doanh thu được tạo ra. Công thức tính Hệ số vòng quay tổng tài sản như sau:

Hệ số vòng quay tổng tài sản càng cao đồng nghĩa với việc sử dụng tài sản của công ty vào các hoạt động sản xuất kinh doanh càng hiệu quả.

Tuy nhiên muốn có kết luận
chính xác về mức độ hiệu quả của việc sử dụng tài sản của một công ty chúng ta cần so sánh hệ số vòng quay tài sản của công ty đó với hệ số vòng quay tài sản bình quân của ngành.

Hệ số này lại ngược với lợi nhuận biên tế (profit margin - tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu thuần), có nghĩa là hệ số
vòng quay tổng tài sản càng cao thì lợi nhuận biên tế càng nhỏ và ngược lại.

Tỷ lệ tăng trưởng tài sản - Asset Growth Rate

Tỷ lệ tăng trưởng tài sản cho biết mức tăng trưởng tài sản tương đối (tính theo phần trăm) qua các thời kỳ. Tỷ lệ này âm đồng nghĩa với tăng trưởng âm. Trường hợp tài sản của một trong số các kỳ trước kỳ hiện tại bằng không thì tỷ lệ tăng trưởng tài sản là không xác định. Công thức tính tỷ lệ tăng trưởng tài sản như sau:

Trong đó TS0 là tài sản của kỳ hiện tại. TSi là tài sản của i kỳ trước. Một kỳ có thể là 4 quý gần nhất, 1 năm gần nhất, 3 năm gần nhất hoặc 5 năm gần nhất. Tùy theo nhu cầu có thể sử dụng tổng tài sản, tài sản lưu động, tài sản dài hạn, hoặc tài sản cố định để tính tỷ lệ tăng trưởng của các loại tài sản khác nhau.

Tăng trưởng tài sản không đồng nghĩa với việc doanh nghiệp làm ăn tốt. Khi phân tích tỷ lệ tăng trưởng tài sản chúng ta cần lưu ý tới nhiều yếu tố khác nhau: Mục đích tăng trưởng tài sản, loại tài sản nào có tăng trưởng, vốn tài trợ lấy từ nguồn nào, ...

Nếu một doanh nghiệp sử dụng lợi nhuận chưa chia để tái đầu tư, thì việc tăng trưởng tài sản thường mang ý nghĩa doanh nghiệp muốn mở rộng sản xuất và việc tăng trưởng tài sản thường là một dấu hiệu tốt.

Trường hợp doanh nghiệp sử dụng chủ yếu là vốn vay thì chúng ta lại cần thận trọng. Vì vốn vay sẽ phải trả cả lãi lẫn gốc, nên việc sử dụng vốn vay để đầu tư mang theo nhièu rủi ro, và quyết định đầu tư sai lầm có thể dẫn đến việc doanh nghiệp bị thua lỗ nặng nề hoặc phá sản. Ví dụ một doanh nghiệp kinh doanh máy tính vay tiền ngân hàng để mua 1 lô hàng lớn với hi vọng bán kiếm lời, nhưng ngay sau khi hàng về, thì các nhà sản xuất máy tính lại cho ra xê ri mới có tính năng vượt trội và giá cả hợp lý. Lô hàng mà doanh nghiệp kinh doanh máy tính nói trên hiển nhiên sẽ rất khó tiêu thụ với giá cũ và doanh nghiệp sẽ bị thua lỗ nặng nề.

Mối quan tâm đối với tỷ lệ tăng trưởng tài sản giữa các ngành khác nhau rất khác nhau, chẳng hạn với ngành ngân hàng thì tăng trưởng tài sản là một trong những mục tiêu quan trọng hàng đầu (bên cạnh tăng trưởng tín dụng), nhưng điều này lại không đúng với các ngành khác.

Tỷ lệ tăng trưởng lợi nhuận - Income Growth Rate

Tỷ lệ tăng trưởng lợi nhuận cho biết mức tăng trưởng lợi nhuận tương đối (tính theo phần trăm) qua các thời kỳ. Tỷ lệ này nhỏ hơn không đồng nghĩa với tăng trưởng âm. Trường hợp lợi nhuận của một trong số các kỳ trước kỳ hiện tại bằng không thì tỷ lệ tăng trưởng lợi nhuận là không xác định. Công thức tính tỷ lệ tăng trưởng lợi nhuận như sau:


Trong đó LN0lợi nhuận của kỳ hiện tại. LNi là lợi nhuận của i kỳ trước. Một kỳ có thể là 4 quý gần nhất, 1 năm gần nhất, 3 năm gần nhất hoặc 5 năm gần nhất. Tùy theo nhu cầu có thể sử dụng lợi nhuận gộp, lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh, tổng lợi nhuận trước hoặc sau thuế để tính tỷ lệ tăng trưởng của các loại lợi nhuận khác nhau.


Doanh nghiệp có tỷ lệ tăng trưởng lợi nhuận cao thường đang kinh doanh rất tốt, và có khả năng quản lý chi phí hiệu quả. Cần lưu ý là nếu chỉ xét trong một giai đoạn ngắn, tỷ lệ tăng trưởng lợi nhuận có thể tăng hoặc giảm đột biến vì nhiều lý do, chẳng hạn doanh nghiệp bán thanh lý tài sản hay trích quỹ dự phòng. Do đó khi phân tích tài chính doanh nghiệp, cần xem xét tỷ lệ tăng trưởng trong một giai đoạn đủ dài, đồng thời cần quan tâm đến việc tăng trưởng lợi nhuận của doanh nghiệp có bền vững hay không.


Tùy vào xu hướng của tỷ lệ tăng trưởng lợi nhuận mà mức tăng trưởng được đánh giá là bền vững, không ổn định, phi mã hay tuột dốc. Những doanh nghiệp có mức tăng trưởng lợi nhuận ổn định ở mức cao luôn được các nhà đầu tư đặc biệt quan tâm.

Tỷ lệ tăng trưởng doanh thu - Sale Growth Rate

Tỷ lệ tăng trưởng doanh thu cho biết mức tăng trưởng doanh thu tương đối (tính theo phần trăm) qua các thời kỳ. Tỷ lệ này nhỏ hơn không đồng nghĩa với tăng trưởng âm. Trường hợp doanh thu của một trong số các kỳ trước kỳ hiện tại bằng không thì tỷ lệ tăng trưởng doanh thu là không xác định. (thường chỉ xảy ra nếu kỳ báo cáo là quý, hoặc trong năm hoạt động đầu tiên của doanh nghiệp). Công thức tính tỷ lệ tăng trưởng doanh thu như sau:


Trong đó DT0doanh thu của kỳ hiện tại. DTi là doanh thu của i kỳ trước. Một kỳ có thể là 4 quý gần nhất, 1 năm gần nhất, 3 năm gần nhất hoặc 5 năm gần nhất. Cũng có thể thay doanh thu bằng doanh thu thuần nếu muốn tính tỷ lệ tăng trưởng doanh thu thuần. Lưu ý là mặc dù doanh thu âm có thể xuất hiện trong báo cáo kinh doanh quý (trong trường hợp hàng bán của quý trước đó bị trả lại), nhưng không được phép xuất hiện trong các báo cáo kinh doanh năm.


Doanh nghiệp có tỷ lệ tăng trưởng doanh thu cao thường đang trong giai đoạn phát triển mạnh, thị phần tăng hoặc đang mở rộng kinh doanh sang các thị trường hoặc lĩnh vực mới. Tuy nhiên tỷ lệ tăng trưởng doanh thu cao không nhất thiết đi kèm với tỷ lệ tăng trưởng lợi nhuận cao.


Tùy vào xu hướng của tỷ lệ
tăng trưởng doanh thu mà mức tăng trưởng được đánh giá là bền vững, không ổn định, phi mã hay tuột dốc. Những doanh nghiệp có mức tăng trưởng doanh thu ổn định ở mức cao luôn được các nhà đầu tư đặc biệt quan tâm.

Tỷ lệ
tăng trưởng doanh thu còn có tên tiếng Anh là Sale Growth Ratio, Revenue Growth Rate, Revenue Growth Ratio.

Tỷ lệ tăng trưởng thu nhập trên cổ phiếu - Earnings Per Share Growth Rate

Tỷ lệ tăng trưởng thu nhập trên cổ phiếu cho biết mức tăng trưởng tương đối thu nhập trên cổ phiếu (tính theo phần trăm) qua các thời kỳ. Tỷ lệ này nhỏ hơn không đồng nghĩa với tăng trưởng âm. Trường hợp thu nhập trên cổ phiếu của một trong số các kỳ trước kỳ hiện tại bằng không thì tỷ lệ tăng trưởng thu nhập trên cổ phiếu là không xác định. Công thức tính tỷ lệ tăng trưởng thu nhập trên cổ phiếu như sau:


Trong đó EPS0thu nhập trên cổ phiếu của kỳ hiện tại. EPSi là thu nhập trên cổ phiếu của i kỳ trước. Một kỳ có thể là 4 quý gần nhất, 1 năm gần nhất, 3 năm gần nhất hoặc 5 năm gần nhất. EPS được sử dụng là EPS cơ bản (trong một số trường hợp nhất định nếu đủ dữ liệu có thể thay EPS cơ bản bởi EPS điều chỉnh, hoặc nếu thiếu dữ liệu có thể thay EPS cơ bản bằng EPS pha loãng).


Tỷ lệ tăng trưởng thu nhập trên cổ phiếu được sử dụng trong đánh giá thị giá của doanh nghiệp, tỷ lệ này cao thì doanh nghiệp cũng được đánh giá cao và ngược lại.


Tùy vào xu hướng của tỷ lệ tăng trưởng thu nhập trên cổ phiếu mà mức tăng trưởng được đánh giá là bền vững, không ổn định, phi mã hay tuột dốc. Những doanh nghiệp có mức tăng trưởng thu nhập trên cổ phiếu ổn định ở mức cao luôn được các nhà đầu tư đặc biệt quan tâm.

Hệ số biên lợi nhuận ròng - Net Profit Margin

Kh
Hệ số biên lợi nhuận ròng = 100 tỷ VNĐ/ 1000 tỷ VNĐ = 10%

Hệ số biên lợi nhuận ròng cũng như mức ổn định của nó giữa các ngành khác nhau là khác nhau. Mức ổn định của
hệ số biên lợi nhuận ròng cũng phụ thuộc vào chu kỳ kinh tế. Thông thường, các doanh nghiệp được quản lý tốt đạt được mức lợi nhuận ròng tương đối cao hơn vì các doanh nghiệp này quản lý các nguồn vốn của mình có hiệu quả hơn.

Hệ số biên lợi nhuận ròng bị giảm thông thường do mức tăng lợi nhuận sau thuế thấp hơn mức tăng trưởng doanh thu. Nguyên nhân là sự tăng trưởng doanh thu quá thấp so với mức tăng chi phí (bao gồm chi phí mua hàng bán và chi phí quản lý). Tuy nhiên cũng còn các lý do khác liên quan đến thuế, ví dụ doanh nghiệp bắt đầu phải đóng thuế sau một số năm được miễn giảm thì hệ số biên lợi nhuận ròng có thể bị giảm mạnh.

Xét từ góc độ nhà đầu tư, một doanh nghiệp sẽ ở vào tình trạng thuận lợi nếu có hệ số biên lợi nhuận ròng cao hơn hệ số biên lợi nhuận ròng trung bình của ngành và, nếu có thể, có
hệ số biên lợi nhuận ròng liên tục tăng. Ngoài ra, một doanh nghiệp càng giảm chi phí của mình một cách hiệu quả - ở bất kỳ doanh số nào - thì hệ số biên lợi nhuận ròng của nó càng cao.

Hệ số biên lợi nhuận trước thuế và lãi vay - EBIT Margin

Hệ số biên lợi nhuận trước thuế và lãi vay (thường được biết đến nhiều hơn với cái tên hệ số biên lợi nhuận hoạt động - tiếng Anh: operating profit margin) phản ánh hiệu quả quản lý tất cả chi phí hoạt động, bao gồm giá vốn và chi phí bán hàng, chi phí quản lý của doanh nghiệp.

Công thức tính hệ số biên lợi nhuận trước thuế và lãi vay như sau:

Hệ số biên lợi nhuận trước thuế và lãi vay = EBIT / Doanh thu

Trong đó EBIT là lợi nhuận trước thuế và lãi vay.

Đánh giá hiệu quả qua
hệ số biên lợi nhuận trước thuế và lãi vay cũng chính xác hơn qua hệ số biên lợi nhuận ròng, do không bị ảnh hưởng bởi chính sách thuế hay các khoản thu nhập khác nằm ngoài lĩnh vực chính. Vì vậy, hệ số biên lợi nhuận trước thuế và lãi vay cao cho thấy doanh nghiệp đang đi đúng hướng với ngành nghề kinh doanh cốt lõi của mình.

Hệ số lợi nhuận hoạt động - Operating Profit Margin

Hệ số biên lợi nhuận hoạt động cho biết lãnh đạo doanh nghiệp đã thành công đến mức nào trong việc tạo ra lợi nhuận từ hoạt động của doanh nghiệp. Hệ số lợi nhuận hoạt động được tính bằng lợi nhuận trước thuế và lãi vay (EBIT) chia cho doanh thu:

Hệ số biên lợi nhuận hoạt động = Lợi nhuận trước thuế và lãi vay / Doanh thu

Hệ số biên lợi nhuận hoạt động được tính cho các giai đoạn khác nhau, chẳng hạn cho 4 quý gần nhất hoặc 3 năm gần nhất.

Ví dụ: Nếu EBIT lên tới 200 tỷ VNĐ trong khi doanh thu là 1000 tỷ VNĐ, thì Hệ số lợi nhuận hoạt động là:

200 tỷ VNĐ / 1000 tỷ VNĐ = 20%.


Hệ số biên
lợi nhuận hoạt động là một thước đo đơn giản nhằm xác định đòn bẩy hoạt động mà một doanh nghiệp đạt được trong việc thực hiện hoạt động kinh doanh của mình.

Hệ số biên lợi nhuận hoạt động cho biết một đồng doanh thu có thể tạo ra bao nhiêu đồng
lợi nhuận trước thuế và lãi vay. Hệ số biên lợi nhuận hoạt động cao có nghĩa là quản lý chi phí có hiệu quả hay nghĩa là doanh thu tăng nhanh hơn chi phí hoạt động.

Các nhà quản lý cần phải tìm ra các nguyên nhân khiến hệ số lợi nhuận hoạt động cao hay thấp để từ đó họ có thể xác định xem doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả hay không, hoặc xem giá bán sản phẩm đã tăng nhanh hơn hay chậm hơn chi phí vốn.

Hệ số biên lợi nhuận gộp - Gross Profit Margin

Hệ số biên lợi nhuận gộp còn gọi là hệ số tổng lợi nhuận hoặc tỷ lệ lãi gộp (tên tiếng Anh: gross margin, gross profit margin, gross profit rate) được tính bằng cách lấy tổng lợi nhuận gộp chia cho doanh thu. Công thức tính hệ số biên lợi nhuận gộp như sau:

Hệ số biên lợi nhuận gộp (%) = Lợi nhuận gộp / Doanh thu

Trong đó:
Lợi nhuận gộp = Doanh thu - Giá vốn hàng bán

Trong một số trường hợp, doanh thu được thay bằng doanh thu thuần và tỷ lệ lãi gộp được tính bằng công thức:

Hệ số biên lợi nhuận gộp (%) = Lợi nhuận gộp / Doanh thu thuần

Chỉ số này cho biết mỗi đồng doanh thu thu về tạo ra được bao nhiêu đồng thu nhập. Hệ số biên lợi nhuận gộp là một chỉ số rất hữu ích khi tiến hành so sánh các doanh nghiệp trong cùng một ngành.Doanh nghiệp nào có hệ số biên lợi nhuận gộp cao hơn chứng tỏ doanh nghiệp đó có lãi hơn và kiểm soát chi phí hiệu quả hơn so với đối thủ cạnh tranh của nó.

Hệ số biên lợi nhuận gộp được biểu hiện bằng con số phần trăm (%), ví dụ nếu hệ số biên lợi nhuận gộp là 20% tức là một công ty sẽ tạo ra được 0.2 đồng thu nhập trên mỗi đồng doanh thu bán hàng. Chỉ đơn thuần nhìn vào thu nhập của một doanh nghiệp sẽ không thể nắm hết được toàn bộ thông tin về doanh nghiệp đó. Thu nhập tăng là dấu hiệu tốt nhưng điều đó không có nghĩa là hệ số biên lợi nhuận gộp của doanh nghiệp đang được cải thiện.

Ví dụ nếu một doanh nghiệp có tốc độ tăng chi phí cao hơn so với doanh thu, hệ số biên lợi nhuận gộp của doanh nghiệp đó sẽ giảm. Điều này có nghĩa là các doanh nghiệp cần kiểm soát tốt các chi phí của mình. Giả định rằng một doanh nghiệp có lợi nhuận gộp là 10 tỷ VNĐ, doanh thu là 100 tỷ VNĐ, hệ số biên lợi nhuận lộp sẽ là:
10 tỷ VNĐ / 100 tỷ VNĐ = 10%.

Nếu trong năm tiếp theo lợi nhuận gộp tăng lên 15 tỷ VNĐ, doanh số tăng lên 200 tỷ VNĐ, hệ số biên lợi nhuận gộp sẽ chỉ còn
15 tỷ VNĐ / 200 tỷ VNĐ = 7.5%.

Như vậy khi một doanh nghiệp tăng lợi nhuận gộp thì đồng thời cũng phải tìm cách làm tăng hệ số biên lợi nhuận gộp theo tỉ lệ tương ứng.

Mục tiêu quan trọng nhất của một doanh nghiệp đó là tạo ra tiền và nắm giữ tiền. Điều này phụ thuộc rất nhiều vào khả năng thanh khoản và hiệu quả kinh doanh bởi các đặc tính này sẽ quyết định khả năng trả cổ tức cho các nhà đầu tư. Chính vì thế nhà đầu tư cần phải phân tích khả năng sinh lợi (profitability) của một doanh nghiệp dưới nhiều góc độ, bao gồm cả hiệu quả sử dụng các nguồn lực và lượng thu nhập tạo ra từ hoạt động của doanh nghiệp. Tính toán hệ số biên lợi nhuận gộp của một doanh nghiệp là một việc làm thiết thực để có được cái nhìn thấu đáo về doanh nghiệp.

Lợi nhuận là điều đầu tiên mà rất nhiều nhà đầu tư xem xét để đánh giá khả năng sinh lợi của một doanh nghiệp. Tuy nhiên không phải lúc nào chỉ số này cũng cho ta một cái nhìn đúng đắn về doanh nghiệp đó. Hệ số biên lợi nhuận gộp, mặt khác, lại có thể đem lại những thông tin cụ thể hơn về hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.

Xem xét ví dụ về hai công ty FPT và ACL. Năm 2007, công ty FPT có lợi nhuận gộp là 737,47 tỷ VNĐ, doanh thu là 13518,4 tỷ VNĐ. Trong khi các số liệu tương ứng của ACL là 56 tỷ VNĐ và 538,9 tỷ VNĐ. Nếu chỉ nhìn vào lợi nhuận của hai công ty thì rõ ràng FPT đã thu lợi nhiều hơn ACL. Nhưng nếu nhìn vào hệ số biên lợi nhuận gộp thì rõ ràng mức của ACL là 10,39% cao gần gấp đôi của FPT (5,5%).

Hệ số giá thị trường trên giá ghi sổ - Price to Book ratio

Hệ số giá thị trường trên giá ghi sổ là hệ số được sử dụng để so sánh giá trị trường của một cổ phiếu so với giá trị ghi sổ của cổ phiếu đó. Tỉ lệ này được tính bằng cách lấy giá đóng cửa hiện tại của cổ phiếu chia cho giá trị ghi sổ tại quý gần nhất của cổ phiếu đó.

Công thức tính như sau:

Trong đó


Ví dụ: giả sử rằng công ty có giá trị tài sản ghi nhận trên bảng cân đối kế toán là 100 tỷ VNĐ, tổng nợ là 75 tỷ VNĐ, như vậy giá trị ghi sổ của công ty là 25 tỷ VNĐ. Nếu hiện tại công ty có 1 triệu cổ phiếu đang lưu hành, mỗi cổ phiếu sẽ đại diện cho 25.000 VNĐ giá trị ghi sổ của công ty. Nếu mỗi cổ phiếu này có giá thị trường là 50.000 VNĐ, như vậy tỉ lệ P/B là 50.000/25000 = 2.

Đối với các nhà đầu tư, P/B là công cụ giúp họ có thể tìm kiếm được các cổ phiếu có giá thấp mà phần lớn thị trường bỏ qua. Nếu một doanh nghiệp đang bán cổ phần với mức giá thấp hơn giá trị ghi sổ của nó (tức là có tỉ lệ P/B nhỏ hơn 1), khi đó có hai trường hợp sẽ xảy ra: hoặc là thị trường đang nghĩ rằng giá trị tài sản của công ty đã bị thổi phồng quá mức hoặc là thu nhập trên tài sản của công ty là quá thấp.

Nếu như điều đầu tiên xảy ra, các nhà đầu tư nên tránh xa các cổ phiếu này bởi vì giá trị tài sản của công ty sẽ nhanh chóng được thị trường điều chỉnh về đúng giá trị thật. Còn nếu điều thứ hai đúng thì có khả năng là lãnh đạo mới của công ty hoặc các điều kiện kinh doanh mới sẽ đem lại những triển vọng kinh doanh cho công ty, tạo dòng thu nhập dương và tăng lợi nhuận cho các cổ đông. Ngược lại, nếu một công ty có giá thị trường của cổ phiếu cao hơn giá trị ghi sổ thì đây thường là dấu hiệu cho thấy công ty làm ăn khá tốt, thu nhập trên tài sản cao.

Chỉ số P/B chỉ thực sự có ích khi bạn xem xét các doanh nghiệp có mức độ tập trung vốn cao hoặc các công ty tài chính bởi giá trị tài sản của các công ty này tương đối lớn. Vì công tác kế toán phải tuân thủ theo những tiêu chuẩn ngặt nghèo, giá trị ghi sổ của tài sản hoàn toàn không tính tới các tài sản vô hình như thương hiệu, nhãn hiệu, uy tín, bằng sáng chế và các tài sản trí tuệ khác do công ty tạo ra. Giá trị ghi sổ không có ý nghĩa nhiều lắm với các công ty dịch vụ vì họ giá trị tài sản hữu hình của họ không lớn.

Ví dụ: Microsoft là công ty mà phần lớn tài sản của công ty này là tài sản trí tuệ, các bản quyền phần mềm chứ không phải là các tài sản hữu hình khác. Cổ phần của công ty này chẳng mấy khi được bán với giá thấp hơn 10 lần giá trị ghi sổ của chúng.

Chỉ số giá trên doanh thu - Price to Sales Ratio

Chỉ số giá trên doanh thu là một trong các chỉ số dùng để đánh giá giá trị cổ phiếu hiện hành so với quá khứ, so với các doanh nghiệp khác trong cùng ngành. Chỉ số giá trên doanh thu được tính bằng cách chia giá trị vốn hóa của cổ phiếu cho tổng doanh thu trong kỳ gần nhất (thường là 12 tháng) hoặc thị giá mỗi cổ phiếu trên doanh thu trên một cổ phiếu.

Chỉ số giá trên doanh thu = Thị giá cổ phiếu / Doanh thu trên một cổ phiếu

Trong đó:

Doanh thu trên một cổ phiếu = Tổng doanh thu trong kỳ / Số cổ phiếu lưu hành bình quân trong kỳ

Chỉ số
giá trên doanh thu thấp (ví dụ như dưới 1) thường được xem là khoản đầu tư tốt khi mà nhà đầu tư trả ít hơn cho mỗi đơn vị doanh thu. Tuy nhiên, doanh thu không thể hiện bức tranh thực của doanh nghiệp nếu như doanh nghiệp hoạt động không có lãi và lợi nhuận vẫn được xem là thước đo hiệu quả hoạt động tốt hơn. Do các giới hạn đó, chỉ số giá trên doanh thu chỉ được sử dụng khi các doanh nghiệp hoạt động lỗ và không tính được chỉ số P/E.

Một điểm cũng đáng lưu ý là doanh thu vẫn được xem là ít bị bóp méo bởi các thủ thuật ghi sổ cũng như các khoản bất thường hơn so với lợi nhuận.

Chỉ số
giá trên doanh thu có thể khác biệt đáng kể giữa các ngành, do đó nó thường được sử dụng khi so sánh các doanh nghiệp hoạt động tương tự nhau.

Do chỉ số
giá trên doanh thu không phản ánh ảnh hưởng của cơ cấu chi phí và cấu trúc nợ, nó được xem là khá giới hạn trong việc phản ánh bức tranh thực cũng như hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.

Hệ số thu nhập trên vốn đầu tư - Return on Invested Capital

Hệ số thu nhập trên vốn đầu tư (Return of Invested Capital - ROIC) phản ánh khả năng sử dụng vốn đầu tư để tạo ra lợi nhuận của doanh nghiệp. Công thức tính hệ số thu nhập trên vốn đầu tư như sau:

ROIC = EBIT * (1- Thuế suất) / Vốn đầu tư
Trong đó

Vốn đầu tư = Tổng tài sản - (tiền và các khoản tương đương tiền) - các khoản nợ không phải trả lãi

Tuy nhiên tính theo công thức này không đơn giản vì rất khó xác định đâu là các khoản nợ không phải trả lãi, do các báo cáo tài chính do các doanh nghiệp Việt Nam rất ít khi báo cáo đầy đủ, ngay cả khi họ cung cấp thuyết minh báo cáo tài chính. Vì vậy công thức trên được thay bằng công thức gần đúng, trong đó vốn đầu tư được coi là bằng vốn sử dụng (Capital Employed):

Vốn đầu tư = Vốn sử dụng = Tổng tài sản - Tổng nợ ngắn hạn

Hệ số thu nhập trên vốn cổ phần - Return on Equity

Hệ số thu nhập trên vốn cổ phần (ROE) phản ánh mức thu nhập ròng trên vốn cổ phần của cổ đông (hay trên giá trị tài sản ròng hữu hình).

ROE= Lợi nhuận ròng / Vốn cổ phần

Trị giá ROE được tính bằng cách lấy lợi nhuận ròng theo niên độ kế toán sau khi đã trả cổ tức cho cổ phần ưu đãi nhưng trước khi trả cổ tức cho cổ phần thường, chia cho toàn bộ vốn chủ sở hữu (hay vốn cổ phần) vào lúc đầu niên độ kế toán.

Chỉ số này là thước đo chính xác nhất để đánh giá một đồng vốn bỏ ra và tích lũy được tạo ra bao nhiêu đồng lời. Hệ số này thường được các nhà đầu tư phân tích để so sánh với các cổ phiếu cùng ngành trên thị trường, từ đó tham khảo khi quyết định mua cổ phiếu của công ty nào.

Tỷ lệ ROE càng cao càng chứng tỏ công ty sử dụng hiệu quả đồng vốn của cổ đông, có nghĩa là công ty đã cân đối một cách hài hòa giữa vốn cổ đông với vốn đi vay để khai thác lợi thế cạnh tranh của mình trong quá trình huy động vốn, mở rộng quy mô. Cho nên hệ số ROE càng cao thì các cổ phiếu càng hấp dẫn các nhà đầu tư hơn.

Khi tính toán được tỷ lệ này, các nhà đầu tư có thể đánh giá ở các góc độ cụ thể như sau:
  • ROE nhỏ hơn hoặc bằng lãi vay ngân hàng, vậy nếu công ty có khoản vay ngân hàng tương đương hoặc cao hơn vốn cổ đông, thì lợi nhuận tạo ra cũng chỉ để trả lãi vay ngân hàng.
  • ROE cao hơn lãi vay ngân hàng thì chúng ta phải đánh giá xem công ty đã vay ngân hàng và khai thác hết lợi thế cạnh tranh trên thị trường chưa để có thể đánh giá công ty này có thể tăng tỷ lệ ROE trong tương lai hay không.

Hệ số thu nhập trên tài sản - Return on Assets

Đây là một chỉ số thể hiện tương quan giữa mức sinh lợi của một công ty so với tài sản của nó. ROA sẽ cho ta biết hiệu quả của công ty trong việc sử dụng tài sản để kiếm lời. ROA được tính bằng cách chia thu nhập hàng năm cho tổng tài sản, thể hiện bằng con số phần trăm. Công thức tính như sau:

ROA = Thu nhập ròng / Tổng tài sản

Chú ý: một số nhà đầu tư có cộng cả chi phí lãi vay vào thu nhập ròng trong công thức tính toán trên vì họ thích sử dụng doanh thu hoạt động trước lãi vay.

ROA sẽ cung cấp cho bạn các thông tin về các khoản lãi được tạo ra từ lượng vốn đầu tư (hay lượng tài sản). ROA đối với các công ty cổ phần có sự khác biệt rất lớn và phụ thuộc nhiều vào ngành kinh doanh. Đó là lý do tại sao khi sử dụng ROA để so sánh các công ty, tốt hơn hết là nên so sánh ROA của mỗi công ty qua các năm và so giữa các công ty tương đồng nhau.

Tài sản của một công ty thì được hình thành từ vốn vay và vốn chủ sở hữu. Cả hai nguồn vốn này được sử dụng để tài trợ cho các hoạt động của công ty. Hiệu quả của việc chuyển vốn đầu tư thành lợi nhuận được thể hiện qua ROA. ROA càng cao thì càng tốt vì công ty đang kiếm được nhiều tiền hơn trên lượng đầu tư ít hơn.

Ví dụ nếu công ty A có thu nhập ròng là 1 tỷ VNĐ, tổng tài sản là 5 tỷ VNĐ, khi đó ROA là 20%, tuy nhiên nếu công ty B cũng thu được khoản thu nhập tương tự trên tổng tài sản là 10 tỷ VNĐ, ROA của B sẽ là 10%. Như vậy công ty A hiệu quả hơn trong việc biến đầu tư thành lợi nhuận. Và do đó, công việc khó khăn nhất của người quản lý là phân bổ vốn và các nguồn lực một cách khôn ngoan. Bất kì ai cũng có thể kiếm lời bằng cách quăng cả núi tiền ra để giải quyết rắc rối nào đó. Tuy nhiên chỉ có rất ít các nhà quản lý có khả năng kiếm những món lợi lớn mà chỉ cần đầu tư khoản tiền nhỏ.

Các nhà đầu tư cũng nên chú ý tới tỉ lệ lãi suất mà công ty phải trả cho các khoản vay nợ. Nếu một công ty không kiếm được nhiều hơn số tiền mà nó bỏ ra để chi cho các hoạt động đầu tư, đó hiển nhiên không phải là một dấu hiệu tốt. Ngược lại, nếu ROA mà tốt hơn chi phí vay thì có nghĩa là công ty đang bỏ túi một món hời.

Tỷ số tổng nợ trên tổng tài sản - Total Debt To Total Assets Ratio

Tỷ số tổng nợ trên tổng tài sản được sử dụng để xác định nghĩa vụ của chủ doanh nghiệp đối với các chủ nợ trong việc góp vốn. Công thức tính tỷ số tổng nợ trên tổng tài sản như sau:



Trong đó tổng nợ và tổng tài sản được lấy từ quý hoặc năm gần nhất, tùy theo bạn định tính tỷ số này cho quý hay năm.

Thông thường các chủ nợ muốn tỷ số nợ trên tổng tài sản vừa phải vì tỷ số này càng thấp thì khoản nợ càng được đảm bảo trong trường hợp doanh nghiệp bị phá sản. Trong khi đó, các chủ sở hữu doanh nghiệp lại muốn tỷ số này cao vì họ muốn lợi nhuận gia tăng nhanh và muốn toàn quyền kiểm soát doanh nghiệp. Tỷ số này cao thể hiện sự bất lợi đối với các chủ nợ nhưng lại có lợi cho chủ sở hữu nếu đồng vốn được sử dụng có khả năng sinh lợi cao. Tuy nhiên, nếu tỷ số tổng nợ trên tổng tài sản quá cao, doanh nghiệp dễ bị rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán.

Để có nhận xét đúng đắn về tỷ số tổng nợ trên tổng tài sản cần phải kết hợp với các tỷ số khác, nhưng nếu tỷ số tổng nợ trên tổng tài sản cao, chúng ta có thể kết luận trong tương lai doanh nghiệp sẽ khó huy động tiền vay để tiến hành kinh doanh, sản xuất.

Tỷ lệ tổng nợ trên vốn chủ sở hữu - Total Debt to Equity Ratio

Tỷ lệ tổng nợ trên vốn chủ sở hữu là chỉ số phản ánh quy mô tài chính của công ty. Nó cho ta biết về tỉ lệ giữa 2 nguồn vốn cơ bản (nợ và vốn chủ sở hữu) mà doanh nghiệp sử dụng để chi trả cho hoạt động của mình. Hai nguồn vốn này có những đặc tính riêng biệt và mối quan hệ giữa chúng được sử dụng rộng rãi để đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp. Tỷ lệ tổng nợ trên vốn chủ sở hữu được tính bằng cách chia tổng nợ cho vốn chủ sở hữu:
DER = Tổng nợ / Vốn chủ sở hữu

Trong đó nợ của doanh nghiệp bao gồm cả nợ ngắn hạn và nợ dài hạn . Vốn chủ sở hữu hay vốn cổ phần của cổ đông gồm cổ phần thông thường, cổ phần ưu đãi, các khoản lãi phải trả và nợ ròng.

Tỷ lệ tổng nợ trên vốn chủ sở hữu cũng phụ thuộc nhiều vào ngành, lĩnh vực mà công ty hoạt động. Ví dụ, các ngành sản xuất cần sử dụng nhiều vốn thì Tỷ lệ tổng nợ trên vốn chủ sở hữu có xu hướng cao hơn, trong khi các công ty dịch vụ thì Tỷ lệ tổng nợ trên vốn chủ sở hữu thường thấp hơn.

Tỷ lệ tổng nợ trên vốn chủ sở hữu giúp nhà đầu tư có một cái nhìn khái quát về sức mạnh tài chính, cấu trúc tài chính của doanh nghiệp và làm thế nào doanh nghiệp có thể chi trả cho các hoạt động. Thông thường, nếu hệ số này lớn hơn 1, có nghĩa là tài sản của doanh nghiệp được tài trợ chủ yếu bởi các khoản nợ, còn ngược lại thì tài sản của doanh nghiệp được tài trợ chủ yếu bởi nguồn vốn chủ sở hữu. Về nguyên tắc, hệ số này càng nhỏ, có nghĩa là nợ phải trả chiếm tỷ lệ nhỏ so với tổng tài sản hay tổng nguồn vốn thì doanh nghiệp ít gặp khó khăn hơn trong tài chính. Tỷ lệ này càng lớn thì khả năng gặp khó khăn trong việc trả nợ hoặc phá sản của doanh nghiệp càng lớn.

Trên thực tế, nếu nợ phải trả chiếm quá nhiều so với nguồn vốn chủ sở hữu có nghĩa là doanh nghiệp đi vay mượn nhiều hơn số vốn hiện có, nên doanh nghiệp có thể gặp rủi ro trong việc trả nợ, đặc biệt là doanh nghiệp càng gặp nhiều khó khăn hơn khi lãi suất ngân hàng ngày một tăng cao. Các chủ nợ hay ngân hàng cũng thường xem xét, đánh giá kỹ tỷ lệ nợ (và một số chỉ số tài chính khác) để quyết định có cho doanh nghiệp vay hay không.

Tuy nhiên, việc sử dụng nợ cũng có một ưu điểm, đó là chi phí lãi vay sẽ được trừ vào thuế thu nhập doanh nghiệp. Do đó, doanh nghiệp phải cân nhắc giữa rủi ro về tài chính và ưu điểm của vay nợ để đảm bảo một tỷ lệ hợp lý nhất.

Một điểm cần lưu ý là khi xem báo cáo tài chính của các doanh nghiệp Việt Nam, bạn có thể thấy một số doanh nghiệp có tỷ lệ tổng nợ trên vốn chủ sở hữu rất cao, có khi lên đến cả chục lần, nhất là các doanh nghiệp nhà nước có tham gia kinh doanh bất động sản. Trong thuyết minh báo cáo tài chính thông tin này được lý giải là công ty đã triển khai nhiều dự án bất động sản có hiệu quả kinh tế cao. Do phần vốn nhà nước hạn chế, doanh nghiệp đã huy động thêm nguồn vốn kinh doanh từ các tổ chức, cá nhân có nhu cầu nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu căn hộ chung cư để thực hiện các dự án này. Tuy nhiên, theo quy định hiện hành về chế độ và nội dung báo cáo quyết toán tài chính của doanh nghiệp thì các khoản thu từ việc huy động nguồn vốn kinh doanh như trên khi chưa đủ điều kiện ghi nhận doanh thu và kết quả sản xuất - kinh doanh thì không tính vào phần vốn chủ sở hữu, mà phải tính vào khoản nợ phải trả, mặc dù thực chất đây không phải là khoản nợ phải trả dẫn đến tỷ lệ tổng nợ trên vốn chủ sở hữu rất cao.

Từ lưu ý trên bạn cần rất thận trọng trong việc nghiên cứu, theo dõi các chỉ số tài chính cũng như phương pháp hạch toán, kế toán và các thông tin liên quan để có thể kết luận chính xác tình hình tài chính của doanh nghiệp.

Hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn - Current Ratio

Khả năng thanh toán của doanh nghiệp là năng lực về tài chính mà doanh nghiệp có được để đáp ứng nhu cầu thanh toán các khoản nợ cho các cá nhân, tổ chức có quan hệ cho doanh nghiệp vay hoặc nợ.

Năng lực tài chính đó tồn tại dưới dạng tiền tệ (tiền mặt, tiền gửi …), các khoản phải thu từ các cá nhân mắc nợ doanh nghiệp, các tài sản có thể chuyển đổi nhanh thành tiền như: hàng hóa, thành phẩm, hàng gửi bán.

Các khoản nợ của doanh nghiệp có thể là các khoản vay ngân hàng, khoản nợ tiền hàng do xuất phát từ quan hệ mua bán các yếu tố đầu vào hoặc sản phẩm hàng hóa doanh nghiệp phải trả cho người bán hoặc người mua đặt trước, các khoản thuế chưa nộp ngân hàng nhà nước, các khoản chưa trả lương.

Hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn dùng để đo lường khả năng trả các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp như nợ và các khoản phải trả) bằng các tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp, như tiền mặt, các khoản phải thu, hàng tồn kho)..

Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn được tính theo công thức sau:



Hệ số này càng cao, khả năng trả nợ ngắn hạn của doanh nghiệp càng lớn. Nếu hệ số này nhỏ hơn 1 thì doanh nghiệp có khả năng không hoàn thành được nghĩa vụ trả nợ của mình khi tới hạn. Mặc dù với tỷ lệ nhỏ hơn 1, có khả năng không đạt được tình hình tài chính tốt, nhưng điều đó không có nghĩa là công ty sẽ bị phá sản vì có rất nhiều cách để huy động thêm vốn.

Tỷ lệ này cho phép hình dung ra chu kì hoạt động của công ty xem có hiệu quả không, hoặc khả năng biến sản phẩm thành tiền mặt có tốt không. Nếu công ty gặp phải rắc rối trong vấn đề đòi các khoản phải thu hoặc thời gian thu hồi tiền mặt kéo dài, thì công ty rất dễ gặp phải rắc rối về khả năng thanh khoản.

Theo công thức trên, khả năng thanh toán của doanh nghiệp sẽ là tốt nếu tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn chuyển dịch theo xu hướng tăng lên và nợ ngắn hạn chuyển dịch theo xu hướng giảm xuống; hoặc đều chuyển dịch theo xu hướng cùng tăng nhưng tốc độ tăng của tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn lớn hơn tốc độ tăng của nợ ngắn hạn; hoặc đều chuyển dịch theo xu hướng cùng giảm nhưng tốc độ giảm của tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn nhỏ hơn tốc độ giảm của nợ ngắn hạn. Tuy nhiên ở đây xuất hiện mâu thuẫn:

Thứ nhất, khả năng thanh toán ngắn hạn của doanh nghiệp là chỉ tiêu phản ánh tình hình tài chính của doanh nghiệp, không thể nói một cách đơn giản tình hình tài chính của doanh nghiệp là tốt nếu khả năng thanh toán ngắn hạn lớn.

Khả năng thanh toán ngắn hạn lớn có thể do: các khoản phải thu (tức nợ không đòi được hoặc không dùng để bù trừ được) vẫn còn lớn, hàng tồn kho lớn (tức nguyên vật liệu dự trữ quá lớn không dùng hết và hàng hóa, thành phẩm tồn kho không bán được không đối lưu được) tức là có thể có một lượng lớn.

Tài sản lưu động tồn trữ lớn, phản ánh việc sử dụng tài sản không hiệu quả, vì bộ phận này không vận động không sinh lời... Và khi đó khả năng thanh toán của doanh nghiệp thực tế sẽ là không cao nếu không muốn nói là không có khả năng thanh toán.

Thứ hai, tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn có thể được hình thành từ vốn vay dài hạn như tiền trả trước cho người bán; hoặc được hình thành từ nợ khác (như các khoản ký quỹ, ký cược…) hoặc được hình thành từ nguồn vốn chủ sở hữu. Chính vì thế có thể vốn vay ngắn hạn của doanh nghiệp nhỏ nhưng nợ dài hạn và nợ khác lớn. Nếu lấy tổng tài sản lưu động chia cho nợ ngắn hạn để nói lên khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của doanh nghiệp thì chẳng khác gì kiểu dùng nợ để trả nợ vay.

Chính vì vậy, không phải hệ số này càng lớn càng tốt. Tính hợp lý của hệ số này phụ thuộc vào ngành nghề kinh doanh, ngành nghề nào có tài sản lưu động chiếm tỷ trọng cao (chẳng hạn Thương mại) trong tổng tài sản thì hệ số này cao và ngược lại.

Hệ số khả năng thanh toán nợ hiện tại
còn có tên tiếng Anh là liquidity ratio.