SỬ DỤNG GIÁ TRỊ HỢP LÝ TRONG
HỆ THỐNG CHUẨN MỰC KẾ TOÁN VÀ
CHUẨN MỰC BÁO CÁO TÀI CHÍNH QUỐC TẾ
TS.Mai Ngọc Anh - Học viện Tài chính
| G |
iá trị hợp lý là một thuật ngữ mới trong lĩnh vực kế toán. Cơ sở tính giá này bắt đầu được sử dụng rộng rãi từ cuối những năm 1990 khi Ủy ban soạn thảo chuẩn mực kế toán quốc tế nghiên cứu ban hành mới và sửa đổi các chuẩn mực kế toán như: Nông nghiệp, Bất động sản đầu tư, thanh toán trên cơ sở cổ phiếu, công cụ tài chính...
Các chuẩn mực kế toán (IAS) và chuẩn mực Báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) hiện hành đều sử dụng định nghĩa "Giá trị hợp lý là mức giá mà một tài sản có thể được trao đổi giữa các bên có đầy đủ hiểu biết trong một giao dịch ngang giá".
Theo Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB), việc xác định giá trị hợp lý dựa trên 3 quan điểm: Quan điểm thị trường, quan điểm thu nhập và quan điểm giá phí:
* Quan điểm thị trường (Market approach): Giá cả thị trường quan sát được và các thông tin về các giao dịch thực tế trên thị trường sẽ được sử dụng để ước tính giá trị hợp lý của một tài sản, một khoản nợ phải trả.
* Quan điểm thu nhập (Income approach): Các phương pháp kỹ thuật sẽ được áp dụng để quy đổi các khoản tiền trong tương lai về giá trị hiện tại. (Dòng tiền vào từ việc khai thác, sử dụng tài sản hoặc dòng tiền ra để thanh toán nợ phải trả).
* Quan điểm giá phí (Cost approach): Giá trị hợp lý của một tài sản được xác định trên cơ sở xem xét các chi phí phải bỏ ra để có được một tài sản thay thế tương đương về năng lực sản xuất (Dòng tiền phải chi để mua, sản xuất tài sản).
Thực tế trong thời gian qua giá trị hợp lý được sử dụng trong các chuẩn mực kế toán và chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế với nhiều cách thức khác nhau gắn với từng chuẩn mực cụ thể. Dưới đây chúng tôi xin khái quát việc sử dụng giá trị hợp lý trong các chuẩn mực kế toán (IAS), chuẩn mực Báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) hiện hành.
Như vậy, theo quy định của các chuẩn mực kế toán và chuẩn mực Báo cáo tài chính quốc tế hiện hành, giá trị hợp lý được vận dụng trong đánh giá và ghi nhận các yếu tố của Báo cáo tài chính là khá phổ biến. Tuy nhiên, việc sử dụng cơ sở giá trị hợp lý có sự khác nhau trong từng tình huống, từng chuẩn mực cụ thể. Có thể khái quát việc sử dụng giá trị trong các chuẩn mực kế toán quốc tế hiện hành theo một số khía cạnh nổi bật như sau:
Thứ nhất, giá trị hợp lý được sử dụng để đánh giá và ghi nhận ban đầu. Đây là cách sử dụng khá phổ biến trong các chuẩn mực kế toán và chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế hiện hành. Việc sử dụng giá trị hợp lý khi ghi nhận ban đầu cũng có những trường hợp khác nhau.
- Trong đa số các trường hợp, giá trị hợp lý được sử dụng để ghi nhận ban đầu tài sản được hình thành mà doanh nghiệp không phát sinh các chi phí thực tế để mua hoặc sản xuất. (Giá trị hợp lý trong trường hợp này được sử dụng là giá gốc khi nhận ban đầu). Các ví dụ điển hình cho trường hợp này là ghi nhận ban đầu "Nhà xưởng, máy móc, thiết bị"; "Bất động sản đầu tư"; "Tài sản sinh học"; "Tài sản thuê tài chính".
- Trong một số trường hợp, giá trị hợp lý được sử dụng để ghi nhận ban đầu tài sản ngay cả khi giá gốc của tài sản tồn tại trong giao dịch.
Khi đó, chênh lệch giữa giá trị hợp lý và giá gốc được ghi nhận là lãi hoặc lỗ tại thời điểm ghi nhận ban đầu. Ví dụ điển hình cho trường hợp này là ghi nhận tài sản tài chính theo giá trị hợp lý qua báo cáo lãi lỗ theo quy định của IAS 39- Công cụ tài chính: Ghi nhận và đo lường.
Thứ hai, Giá trị hợp lý được sử dụng sau ghi nhận ban đầu. Sau ghi nhận ban đầu, giá trị hợp lý được xác định tại mỗi thời điểm lập báo cáo tài chính. Việc sử dụng giá trị hợp lý sau ghi nhận ban đầu có các phương án:
- Tài sản được ghi nhận theo giá trị hợp lý tại thời điểm báo cáo (Ví dụ: Đánh giá sau khi nhận ban đầu đối với tài sản tài chính, bất động sản đầu tư)
- Tài sản được ghi nhận theo giá trị hợp lý trừ chi phí ước tính tại thời điểm bán (Ví dụ: Đánh giá và ghi nhận ban đầu đối với tài sản sinh học và sản phẩm thu được từ tài sản sinh học theo IAS 41 - Nông nghiệp).
- Giá trị hợp lý được sử dụng làm cơ sở để tính giá trị đánh giá lại của tài sản sau ghi nhận ban đầu. (Ví dụ: Xác định giá trị đánh giá lại của nhà xưởng, máy móc thiết bị theo mô hình đánh giá lại của IAS 16, tài sản vô hình theo IAS 38).
Thứ ba, Ghi nhận chênh lệch phát sinh do sự biến động của giá trị hợp lý. Các khoản chênh lệch phát sinh do sự thay đổi giá trị hợp lý giữa các thời điểm báo cáo có thể được xử lý theo các phương án:
- Ghi nhận là thu nhập, chi phí trong báo cáo lãi, lỗ (Ví dụ: Tài sản tài chính ghi nhận theo giá trị hợp lý qua báo cáo lãi lỗ, bất động sản đầu tư, tài sản sinh học và sản phẩm nông nghiệp).
- Ghi nhận điều chỉnh chỉ tiêu thuộc nguồn vốn chủ sở hữu trên Bảng cân đối kế toán (Tài sản tài chính nắm giữ để bán).
Ngoài ra, các khoản chênh lệch giá đánh giá lại được tính trên cơ sở giá trị hợp lý (áp dụng với nhà xưởng máy móc thiết bị, tài sản vô hình) được xử lý theo nguyên tắc:
- Chênh lệch giá trị đánh giá lại của tài sản giảm (Do giá trị hợp lý giảm) được ghi nhận là chi phí trên báo cáo lãi, lỗ hoặc ghi giảm vốn chủ sở hữu nếu trước đó có phát sinh chênh lệch giá lại tăng đã được ghi nhận vào vốn chủ sở hữu.
- Chênh lệch giá đánh giá lại của tài sản tăng (Do giá trị hợp lý tăng) được ghi nhận tăng vốn chủ sở hữu hoặc ghi nhận vào thu nhập nếu trước đó có phát sinh chênh lệch giá đánh giá lại giảm đã được ghi nhận vào chi phí trên báo cáo lãi, lỗ.
Trong hầu hết các trường hợp, việc sử dụng giá trị hợp lý trong đánh giá và ghi nhận tài sản, nợ phải trả được quy định trong các chuẩn mực kế toán quốc tế đề kèm theo điều kiện nhất định, đặc biệt là điều kiện về sự tồn tại của thị trường hoạt động của tài sản, nợ phải trả và doanh nghiệp có thể thu thập được thông tin từ thị trường một cách đáng tin cậy để áp dụng các phương pháp kỹ thuật xác định giá trị hợp lý. Vì vậy, việc sử dụng giá trị hợp lý trong đo lường và ghi nhận tài sản và nợ phải trả thường được xác định là một mô hình mà đơn vị báo cáo có thể lựa chọn. Bên cạnh đó các chuẩn mực còn quy định các mô hình định giá và ghi nhận thay thế như mô hình ghi nhận theo giá gốc (Cost model) hoặc mô hình ghi nhận theo giá gốc được phân bổ (Cost amortised model)
Với nội dung trình bày trong phạm vi bài viết này, chúng tôi mong muốn hệ thống một cách khái quát việc sử dụng "giá trị hợp lý" trong hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế hiện hành như một minh chứng cho thấy các nhà nghiên cứu, ban hành chuẩn mực kế toán ngày càng quan tâm hơn đến cơ sở tính giá này. Cùng với việc hệ thống kế toán tài chính các nước như Mỹ, Anh,... cũng sử dụng rộng rãi giá trị hợp lý trong các chuẩn mực mới ban hành gần đây, có thể thấy giá trị hợp lý được sử dụng trong đánh giá và ghi nhận các yếu tố của Báo cáo tài chính đã trở thành một xu hướng. Tuy nhiên, thực sự việc sử dụng giá trị hợp lý trong kế toán có hợp lý hay không đang là một vấn đề được tranh luận sôi nổi trên các diễn đàn kế toán thời gian gần đây. Trong các bài viết tiếp theo chúng tôi sẽ tiếp tục bàn về vấn đề này./.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét