Thứ Hai, 28 tháng 6, 2010

Mỹ dự định đánh thuế 19 tỷ USD vào các nhà băng

Dự luật này nằm trong kế hoạch đại cải tổ hệ thống tài chính Mỹ.

Cuối tuần qua, Quốc hội Mỹ đã hoàn tất một dự luật quy định đánh thuế 19 tỷ USD vào các định chế tài chính của nước này. Dự luật thuế nhà băng này là một phần trong kế hoạch đại cải tổ hệ thống tài chính Mỹ.

Theo hãng tin CNN, khi các nhà làm luật ở Washington đưa ra dự luật đánh thuế ngân hàng, các nhà hoạch định chính sách ở Anh, Pháp và Đức cũng đang thúc đẩy các kế hoạch này đánh thuế mới vào các định chế tài chính.

Đồng thời, dự luật này cũng được hoàn tất khi các nhà lãnh đạo của 20 nền kinh tế lớn nhất thế giới (G-20) nhóm họp tại Toronto, Canada để bàn về các biện pháp để tăng cường sức mạnh cho kinh tế thế giới. Trong một lá thư gửi cho các nhà lãnh đạo khác của G-20, Pháp và Đức đã kêu gọi đi tới một thỏa thuận quốc tế về đánh thuế vào các định chế tài chính.

Tuy nhiên, trong cuộc họp G-20 lần trước diễn ra hồi đầu tháng này ở Hàn Quốc, ý tưởng về đánh thuế toàn cầu vào các nhà băng đã không nhận được sự đồng thuận của mọi quốc gia. Canada, Brazil và Nhật Bản đã phản đối ý tưởng này vì cho rằng, các ngân hàng ở nước họ đã không hề cầu viện sự hỗ trợ của chính phủ.

Mặc dù mức thuế nhà băng tại các quốc gia đề xuất là không giống nhau, nhưng điểm chung đều nhằm mục tiêu đảm bảo các ngân hàng phải chịu trách nhiệm cho những rủi ro mà họ chấp nhận lao vào.

“Các vụ đổ vỡ ngân hàng gây ra tổn thất lớn cho toàn bộ phần còn lại của nền kinh tế. Tôi tin rằng, sẽ là điều hợp lý, nếu trong tương lai, các ngân hàng có sự đóng góp hợp lý hơn, phản ánh những rủi ro mà họ tạo ra cho xã hội”, ông George Osborne, Bộ trưởng Bộ Tài chính Anh, nhận xét hồi tuần trước.

Tại Anh, Chính phủ nước này đã đề ra một kế hoạch thắt chặt chi tiêu mạnh tay nhất trong nhiều thập kỷ trở lại đây. Các nhà chức trách dự kiến, thuế nhà băng sẽ giúp tăng doanh thu thuế thêm 2 tỷ Bảng mỗi năm.

Kế hoạch thuế ngân hàng của Mỹ đề xuất đánh thuế vào các nhà băng có tài sản từ 50 tỷ USD trở lên và các quỹ đầu cơ có tài sản từ 10 tỷ USD trở lên. Dự luật này dự kiến sẽ thu về 4 tỷ USD tiền thuế mỗi năm trong vòng 5 năm tới.

Bên cạnh khoản thuế trên, Quốc hội Mỹ còn đang cân nhắc thu 90 tỷ USD tiền phí trách nhiệm về khủng hoảng tài chính. Đây là một phần trong đề xuất ngân sách năm 2011 của Tổng thống Barack Obama. Khoản phí không nhỏ này sẽ chủ yếu do các định chế tài chính bị xem là “tiếp tay” cho khủng hoảng và nhận phần lớn tiền cứu trợ của Chính phủ Mỹ đóng góp.

(Theo VNeconomy)

“Trung tâm chính trị - hành chính của Việt Nam là ở Ba Đình”

Đó là khẳng định của Tổng bí thư Nông Đức Mạnh tại cuộc tiếp xúc ngày 26/6 với cử tri tại Công an tỉnh Thái Nguyên và huyện Phổ Yên (Thái Nguyên), để báo cáo về kết quả kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa 12.

Tổng bí thư tiếp xúc cử tri và báo cáo kết quả kỳ họp Quốc hội khóa XII với cán bộ, nhân dân huyện Phổ Yên - Ảnh: Xuân Tuân.

Nguồn tin từ TTXVN cho biết, phát biểu với cử tri, Tổng bí thư nhấn mạnh để đẩy mạnh công cuộc đổi mới toàn diện, hiệu quả và vững chắc thì điều kiện quan trọng nhất chính là sự ổn định về chính trị. Đổi mới, phát triển và ổn định có mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhau, vừa là cơ sở vừa là tiền đề của nhau. Muốn phát triển phải có sự ổn định về chính trị - xã hội và ngược lại phát triển cũng sẽ tạo cơ sở cho ổn định vững chắc hơn.

Về việc có dự án lớn chưa được thông qua tại kỳ họp lần này, Tổng bí thư nêu rõ, một trong những mục tiêu quan trọng của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng, trong đó chúng ta mong muốn xây dựng Quốc hội ngày càng mạnh lên, Chính phủ và các cơ quan tư pháp cũng ngày càng mạnh lên.

Trong thể chế của Việt Nam không có việc dùng cơ quan này “bác” cơ quan kia. Trong thảo luận của Quốc hội có những ý kiến phát biểu khác nhau là điều bình thường. Và việc có dự án lớn được trình ra Quốc hội nhưng chưa được thông qua cũng là điều bình thường.

Một trong những khó khăn của đất nước hiện nay là cơ sở hạ tầng giao thông yếu kém. Việc đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông, trong đó có đường sắt cao tốc là một chủ trương lớn trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Chưa thông qua dự án đường sắt cao tốc Bắc-Nam trong kỳ họp này do Quốc hội thấy trong thời điểm hiện nay Việt Nam chưa có đủ các điều kiện cần thiết để xây dựng và dự án cần tiếp tục được bổ sung, điều chỉnh… cho phù hợp.

Đề án quy hoạch Thủ đô Hà Nội về cơ bản các đại biểu Quốc hội đã nhất trí, còn một số điểm cần làm rõ thêm. Trong thảo luận về các vấn đề lớn trên, các đại biểu Quốc hội đã thể hiện rất trách nhiệm và dân chủ. Tổng bí thư khẳng định, trung tâm chính trị - hành chính của Việt Nam là ở Ba Đình, Hà Nội.

Nguồn: Hải Vy - VnEconomy

Quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở

Một góc khu đô thị Mỹ Đình. (Ảnh: Tuấn Anh/TTXVN)
Với bảy chương, 84 điều, Nghị định quy định chi tiết về phát triển nhà ở, trong đó có dự án phát triển nhà ở, nhà ở thương mại, phát triển và quản lý quỹ nhà ở công vụ, phát triển và quản lý nhà ở xã hội, xây dựng nhà ở riêng lẻ của hộ gia đình, cá nhân.

Nghị định còn quy định chi tiết về sở hữu, quản lý sử dụng nhà ở bao gồm nhà chung cư, biệt thự tại đô thị; giao dịch về nhà ở; quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam của người Việt Nam định cư ở nước ngoài và của tổ chức, cá nhân nước ngoài; quản lý nhà nước về nhà ở.

Theo Nghị định, đối tượng được áp dụng là tổ chức, cá nhân trong nước; người Việt Nam định cư ở nước ngoài; tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư phát triển nhà ở tại Việt Nam; tổ chức, cá nhân sở hữu nhà ở, sử dụng nhà ở và tham gia giao dịch về nhà ở tại Việt Nam; cơ quan quản lý Nhà nước các cấp về lĩnh vực nhà ở; tổ chức, cá nhân không thuộc diện quy định trên nhưng có các hoạt động liên quan đến lĩnh vực nhà ở.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 8/8 tới, thay thế Nghị định số 90/2006/NĐ-CP ngày 6/9/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật nhà ở.

Đối với dự án phát triển nhà ở đã được lập và trình phê duyệt theo quy định của Nghị định số 90/2006/NĐ-CP ngày 6/9/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở nhưng Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh hoặc huyện chưa phê duyệt hoặc trường hợp đã được phê duyệt (kể cả nhà ở được xây dựng trong khu đô thị mới) nhưng có đề nghị thay đổi một trong những nội dung của dự án phát triển nhà ở theo quy định tại khoản 4 Điều 7 của Nghị định này thì thực hiện lập, thẩm định, phê duyệt, chấp thuận đầu tư hoặc chấp thuận bổ sung nội dung dự án phát triển nhà ở (dự án phát triển khu nhà ở hoặc dự án phát triển nhà ở độc lập) theo quy định của nghị định này.

Bãi bỏ các nội dung liên quan đến phát triển nhà ở, công nhận quyền sở hữu nhà ở, quản lý sử dụng nhà ở, giao dịch về nhà ở, quản lý nhà nước về nhà ở được quy định trong các Nghị định của Chính phủ, các văn bản pháp luật do các bộ, ngành và Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh ban hành trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành mà trái với quy định của Nghị định này.
Nguồn: Theo TTXVN/Vietnam+

Thứ Tư, 23 tháng 6, 2010

Vay tín dụng tối đa 85% giá trị hợp đồng xuất khẩu, nhập khẩu

Đồng tiền cho vay tín dụng xuất khẩu là đồng Việt Nam (VNĐ). Ảnh minh hoạ.
Nhà xuất khẩu có hợp đồng xuất khẩu và nhà nhập khẩu có hợp đồng nhập khẩu hàng hoá thuộc Danh mục mặt hàng vay vốn tín dụng xuất khẩu có thể vay tối đa bằng 85% giá trị hợp đồng xuất khẩu, nhập khẩu đã ký hoặc giá trị L/C đối với cho vay trước khi giao hàng hoặc trị giá hối phiếu hợp lệ đối với cho vay sau khi giao hàng. Mức vốn cho vay đối với từng trường hợp do Ngân hàng Phát triển Việt Nam quyết định theo quy định.

Đây là một trong những nội dung chính của Dự thảo Nghị định về tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu của Nhà nước đang được Bộ Tài chính lấy ý kiến đóng góp của nhân dân qua Cổng Thông tin điện tử của Bộ này.

Để được vay tín dụng xuất khẩu, cần phải đạt một số tiêu chí như nhà xuất khẩu đã ký kết hợp đồng xuất khẩu; nhà nhập khẩu có hợp đồng nhập khẩu đã ký kết với doanh nghiệp, tổ chức kinh tế Việt Nam; phương án sản xuất kinh doanh có hiệu quả được Ngân hàng Phát triển Việt Nam thẩm định và chấp thuận cho vay; nhà xuất khẩu, nhà nhập khẩu có năng lực pháp luật, năng lực hành vi dân sự đầy đủ.

Mặt khác, nhà xuất khẩu phải thực hiện các quy định về bảo đảm tiền vay; phải mua bảo hiểm tài sản tại một công ty bảo hiểm hoạt động hợp pháp tại Việt Nam đối với tài sản hình thành từ vốn vay thuộc đối tượng mua bảo hiểm bắt buộc trong suốt thời hạn vay vốn; phải được Chính phủ hoặc Ngân hàng trung ương của nước bên nhà nhập khẩu bảo lãnh vay vốn.

Thời hạn cho vay xác định theo khả năng thu hồi vốn phù hợp với đặc điểm của từng hợp đồng xuất khẩu và khả năng trả nợ của nhà xuất khẩu hoặc nhà nhập khẩu nhưng thời hạn cho vay của từng khoản vay không quá 12 tháng.

Trường hợp cần thiết, thời hạn cho vay trên 12 tháng thì nhà xuất khẩu mới đủ điều kiện thực hiện hợp đồng xuất khẩu, Ngân hàng Phát triển Việt Nam đề nghị Bộ Tài chính xem xét, quyết định.

Lãi suất cho vay xuất khẩu bằng đồng Việt Nam và ngoại tệ tự do chuyển đổi, do Bộ Tài chính quyết định theo nguyên tắc phù hợp với lãi suất thị trường. Lãi suất nợ quá hạn đối với mỗi khoản giải ngân bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn theo hợp đồng tín dụng đã ký với Ngân hàng Phát triển Việt Nam. Bộ trưởng Bộ Tài chính công bố lãi suất cho vay để Ngân hàng Phát triển Việt nam thực hiện. Số lần công bố lãi suất hàng năm tối đa là 2 lần.

Ngân hàng Phát triển Việt Nam trực tiếp giải ngân, thu nợ hoặc ủy thác cho các tổ chức tài chính, tín dụng hoạt động hợp pháp ở trong nước và ngoài nước thực hiện giải ngân và thu nợ.

Bảo lãnh tối đa không quá 3% giá dự thầu

Dự thảo cũng quy định rõ về vấn đề bảo lãnh dự thầu và bảo lãnh thực hiện hợp đồng. Theo đó nêu 3 điều kiện cụ thể gồm: Nhà xuất khẩu tham gia dự thầu hoặc thực hiện hợp đồng xuất khẩu hàng hoá thuộc Danh mục mặt hàng vay vốn tín dụng xuất khẩu theo quy định, có nhu cầu bảo lãnh dự thầu và bảo lãnh thực hiện hợp đồng xuất khẩu; Có tài liệu hợp pháp chứng minh yêu cầu của phía nước ngoài về bảo lãnh dự thầu hoặc bảo lãnh thực hiện hợp đồng xuất khẩu; Nhà xuất khẩu được bảo lãnh dự thầu và bảo lãnh thực hiện hợp đồng xuất khẩu phải có năng lực tài chính để tham gia dự thầu hoặc thực hiện hợp đồng xuất khẩu được Ngân hàng Phát triển Việt Nam thẩm định và chấp thuận bảo lãnh.

Mức bảo lãnh tối đa không quá 3% giá dự thầu đối với bảo lãnh dự thầu và tối đa không quá 15% giá trị hợp đồng xuất khẩu đối với bảo lãnh thực hiện hợp đồng xuất khẩu.

Nhà xuất khẩu được bảo lãnh phải trả phí bảo lãnh là 0,5%/năm trên giá trị bảo lãnh nhưng tối đa bằng 100 triệu đồng/1 hợp đồng bảo lãnh.

Nhà xuất khẩu được bảo lãnh phải nhận nợ bắt buộc đối với số tiền Ngân hàng Phát triển Việt Nam đã trả cho bên nước ngoài và phải chịu lãi suất phạt bằng 150% lãi suất cho vay tín dụng xuất khẩu tính trên số tiền nhận nợ.

Bảo đảm tiền vay tối thiểu 15% tổng mức vay vốn

Về vấn đề bảo đảm tiền vay, trả nợ vay và xử lý rủi ro tín dụng đầu tư, tín dụng xuất khẩu Nhà nước, các chủ đầu tư khi vay vốn tín dụng đầu tư được dùng tài sản hình thành từ vốn vay hoặc áp dụng các biện pháp bảo đảm theo qui định của pháp luật để bảo đảm cho số vốn mà Ngân hàng Phát triển Việt Nam cho vay.

Trường hợp tài sản hình thành từ vốn vay không đủ điều kiện bảo đảm tiền vay, chủ đầu tư phải sử dụng tài sản hợp pháp khác để bảo đảm tiền vay với giá trị tối thiểu bằng 15% tổng mức vay vốn.

Nhà xuất khẩu khi vay vốn phải thực hiện các quy định về bảo đảm tiền vay theo quy định hiện hành của pháp luật; được miễn tài sản thế chấp khi bảo lãnh dự thầu hoặc bảo lãnh thực hiện hợp đồng xuất khẩu.

Chủ đầu tư, nhà xuất khẩu không được chuyển nhượng, bán cho thuê, cho mượn hoặc thế chấp, cầm cố tài sản bảo đảm khi chưa trả hết nợ. Trường hợp chủ đầu tư, nhà xuất khẩu không trả được nợ hoặc giải thể, phá sản, Ngân hàng Phát triển Việt Nam được áp dụng biện pháp xử lý tài sản bảo đảm; được cải tạo, sửa chữa, nâng cấp tài sản để bán, cho thuê khai thác hoặc được góp vốn liên doanh bằng tài sản bảo đảm theo quy định của pháp luật đối với vác tổ chức tín dụng để thu hồi nợ.

Chủ đầu tư, nhà xuất khẩu, nhà nhập khẩu có trách nhiệm trả nợ cho Ngân hàng Phát triển Việt Nam theo đúng hợp đồng tín dụng đã ký. Trong thời gian ân hạn, chủ đầu tư chưa phải trả nợ gốc nhưng phải trả lãi theo hợp đồng tín dụng đã ký. Sau thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày đến hạn trả nợ, chủ đầu tư, nhà xuất khẩu, nhà nhập khẩu vay vốn không trả được nợ vay của kỳ hạn đó thì số nợ gốc và lãi chậm trả phải chịu lãi suất quá hạn theo quy định.

Trường hợp nhà nhập khẩu không trả được nợ hoặc trả nợ không đủ, Ngân hàng Phát triển Việt Nam có trách nhiệm thu hồi nợ từ các tổ chức bảo lãnh của nước nhập khẩu theo đúng hợp đồng bảo lãnh.

Ngân hàng Phát triển Việt Nam được lập Quỹ dự phòng rủi ro để xử lý các rủi ro do các chủ đầu tư, nhà xuất khẩu, nhà nhập khẩu không trả được nợ.

Tổng giám đốc Ngân hàng Phát triển Việt Nam điều chỉnh thời hạn trả nợ, kỳ hạn trả nợ và mức trả nợ trong mỗi kỳ hạn, gia hạn nợ, tổng thời gian gia hạn nợ không vượt quá 1/2 thời hạn cho vay đã ký trong hợp đồng tín dụng đầu tiên và tổng thời hạn vay vốn không vượt thời hạn vay vốn tối đa theo quy định của Nghị định này.

Bộ trưởng Bộ Tài chính quyết định khoanh nợ, xoá nợ lãi cho chủ đầu tư, nhà xuất khẩu trên cơ sở đề nghị của Hội đồng quản lý Ngân hàng Phát triển Việt Nam.

Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thẩm tra, trình Thủ tướng Chính phủ quyết định các trường hợp xóa nợ gốc trên cơ sở đề nghị của Tổng giám đốc Ngân hàng Phát triển Việt Nam.


(Theo Taichinhdientu)

Thứ Ba, 22 tháng 6, 2010

Ưu đãi thuế cho doanh nghiệp di chuyển địa điểm sản xuất khỏi đô thị

Ảnh minh hoạ.
Cơ sở kinh doanh di chuyển địa điểm ra khỏi đô thị theo quy hoạch của cơ quan có thẩm quyền thì được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp 2 năm kể từ khi có thu nhập chịu thuế và giảm 50% số thuế phải nộp cho 2 năm tiếp theo.

Bộ Tài chính đã giải đáp thắc mắc của một số Cục thuế và doanh nghiệp về chính sách thuế đối với doanh nghiệp phải di chuyển địa điểm sản xuất kinh doanh theo quy định tại Quyết định số 64/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt "Kế hoạch xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng".

Theo Quyết định này, các doanh nghiệp thuộc mục 1.2 Phụ lục 1 ban hành kèm theo phải di chuyển địa điểm kinh doanh.

Tại khoản 1, khoản 4, khoản 5 Điều 36 Chương V Nghị định số 164/2003/NĐ-CP ngày 22/12/2003 của Chính phủ và khoản 1, khoản 3, khoản 5 Điều 35 Nghị định số 24/2007/NĐ-CP ngày 14/2/2007 của Chính phủ quy định về ưu đãi thuế TNDN đối với cơ sở kinh doanh di chuyển toàn bộ doanh nghiệp như sau:

Cơ sở kinh doanh di chuyển địa điểm ra khỏi đô thị theo quy hoạch của cơ quan có thẩm quyền thì được miễn thuế TNDN 2 năm kể từ khi có thu nhập chịu thuế và giảm 50% số thuế phải nộp cho 2 năm tiếp theo.

Cơ sở kinh doanh di chuyển đến địa bàn khó khăn hoặc đặc biệt khó khăn thì được ưu đãi miễn, giảm thuế TNDN bằng với mức miễn, giảm thuế TNDN đối với cơ sở kinh doanh mới thành lập tại các địa bàn này.

Căn cứ các quy định nêu trên và căn cứ ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Công văn số 2716/VPCP-KTTH ngày 26/4/2010, trường hợp trước ngày 1/1/2009, doanh nghiệp thuộc mục 1.2 Phụ lục 1 ban hành kèm theo Quyết định số 64/2003/QĐ-TTg di chuyển bộ phận sản xuất đến địa chỉ mới, bộ phận quản lý, điều hành, văn phòng, giao dịch vẫn ở địa điểm cũ thì bộ phận sản xuất tại địa bàn mới được áp dụng quy định về ưu đãi thuế TNDN như đối với trường hợp di dời toàn bộ doanh nghiệp.

(Theo VPG News)

Các Tập đoàn phải công khai, minh bạch 9 loại thông tin

Ảnh minh hoạ.
Thời gian qua, một số tập đoàn, tổng công ty Nhà nước sử dụng vốn Nhà nước dàn trải, chưa tập trung vào ngành nghề kinh doanh chính, huy động quá nhiều vốn để đầu tư dẫn tới hệ số nợ phải trả /vốn chủ sở hữu cao... nhưng chưa được phản ánh kịp thời trong nội dung báo cáo công khai tài chính của doanh nghiệp. Tình trạng này dẫn tới sự lộn xộn trong hoạt động sản xuất kinh doanh, gây thiệt hại cho ngân sách Nhà nước.

Cần siết chặt quản lý

Theo Bộ Tài chính, thời gian qua, việc công bố công khai tài chính của các doanh nghiệp Nhà nước chưa được thực hiện nghiêm túc, nhiều doanh nghiệp chưa thực hiện việc công bố công khai tài chính hoặc công bố chậm, báo cáo không đầy đủ và không chính xác, nội dung báo cáo công khai tài chính còn sơ sài, chưa làm rõ các vấn đề cần phải báo cáo như tình hình huy động vốn của doanh nghiệp, tình hình sử dụng và đầu tư vốn Nhà nước, tình hình đầu tư góp vốn vào các lĩnh vực ngân hàng, chứng khoán, bất động sản...

Trong thời gian tới khi các doanh nghiệp Nhà nước chuyển sang hoạt động theo Luật Doanh nghiệp thì vấn đề công khai minh bạch tình hình tài chính, tình hình hoạt động của doanh nghiệp càng cần thiết. Để giúp cho chủ sở hữu Nhà nước và cơ quan quản lý Nhà nước quản lý, giám sát và đánh giá chính xác hoạt động của các doanh nghiệp có vốn Nhà nước như các quy định đã nêu tại Nghị định số 101/2009/NĐ-CP ngày 5/11/2009 của Chính phủ thí điểm thành lập, tổ chức, hoạt động và quản lý tập đoàn kinh tế Nhà nước và Nghị định số 25/2010/NĐ-CP ngày 19/3/2010 của Chính phủ về chuyển đổi công ty Nhà nước thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên và tổ chức quản lý công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu, Bộ Tài chính đã dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế báo cáo và công khai, minh bạch kết quả hoạt động của các tập đoàn, tổng công ty với các tiêu chí rõ ràng và đầy đủ hơn.

Báo cáo công khai minh bạch kết quả hoạt động của tập đoàn, tổng công ty Nhà nước (dưới đây gọi tắt là doanh nghiệp) sẽ giúp doanh nghiệp minh bạch tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh, tình hình tài chính, tạo điều kiện cho doanh nghiệp và người quản lý, điều hành doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả; là cơ sở để chủ sở hữu doanh nghiệp và các cơ quan quản lý Nhà nước thực hiện việc kiểm tra, kiểm soát, thanh tra, giám sát việc quản lý sử dụng phần vốn Nhà nước tại doanh nghiệp; nhằm đảm bảo minh bạch tình hình tài chính của doanh nghiệp. Phát hiện kịp thời hành vi vi phạm chế độ quản lý tài chính, chế độ kế toán của doanh nghiệp.

9 loại thông tin phải khai, minh bạch

Theo dự thảo thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế báo cáo và công khai, minh bạch kết quả hoạt động của các tập đoàn, tổng công ty đang được Bộ Tài chính lấy ý kiến rộng rãi trên Cổng Thông tin điện tử của Bộ, thì có 9 loại thông tin mà các tập đoàn, tổng công ty sẽ phải công bố công khai, gồm:

1. Kết quả hoạt động kinh doanh, kết quả hoạt động tài chính, hiệu quả kinh doanh, tỷ suất lợi nhuận trên vốn Nhà nước: báo cáo tình hình thực hiện chi phí sản xuất kinh doanh, kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, tình hình thực hiện nghĩa vụ với ngân sách, đánh giá hiệu quả hoạt động, tỷ suất lợi nhuận trên vốn Nhà nước.

2. Tình hình huy động vốn và sử dụng vốn huy động: báo cáo tình hình vay, huy động vốn từ các nguồn phát hành trái phiếu, cổ phiếu, vay dài hạn, vay ngắn hạn và các huy động khác; tình hình sử dụng vốn huy động vào các mục đích: đầu tư xây dựng cơ bản, chi hoạt động sản xuất kinh doanh, chi mục đích khác.

3. Tình hình đầu tư tài chính: báo cáo các khoản đầu tư tài chính vào các công ty con, công ty liên kết, công ty liên doanh và các đầu tư tài chính khác, trong đó cần báo cáo rõ đầu tư tài chính vào các lĩnh vực thuộc ngành nghề kinh doanh chính của doanh nghiệp, lĩnh vực không thuộc ngành nghề kinh doanh chính của doanh nghiệp và các khoản đầu tư vào lĩnh vực bảo hiểm, ngânh hàng, chứng khoán, bất động sản. Đối với khoản đầu tư ra ngoài doanh nghiệp cần công khai tỷ lệ vốn góp, tỷ lệ lợi ích và tỷ lệ quyền biểu quyết ở doanh nghiệp khác.

4. Tình hình bảo toàn và phát triển vốn: báo cáo tình hình vốn Nhà nước, tình hình tài sản không cần dùng, ứ đọng, kém mất phẩm chất, các khoản công nợ phải thu, công nợ phải trả, khả năng thanh toán nợ.

5. Tình hình phân phối lợi nhuận: báo cáo tình hình phân phối lợi nhuận và trích lập Quỹ, tình hình quản lý và sử dụng Quỹ.

6. Tình hình tăng (giảm) hoặc chuyển nhượng một phần vốn điều lệ: báo cáo tình hình biến động tăng (giảm) về vốn điều lệ, tình hình thay đổi cơ cấu vốn điều lệ.

7. Tình hình thu nhập của người lao động: báo cáo tổng quỹ tiền lương thực hiện của doanh nghiệp, tốc độ tăng tiền lương bình quân so với tốc độ tăng năng suất lao động của doanh nghiệp, các khoản thu nhập khác, thu nhập bình quân của người lao động trong doanh nghiệp, số lao động thực tế sử dụng so với số lao động định biên, mức lương, thưởng và tổng thu nhập của lãnh đạo doanh nghiệp.

8. Tình hình quản lý và sử dụng tài sản là đất đai: báo cáo tổng diện tích đất hiện có của doanh nghiệp trong đó chia ra diện tích đất thuê, diện tích đất giao có thu tiền sử dụng đất, diện tích đất giao không thu tiền sử dụng đất; tình hình sử dụng đất của doanh nghiệp trong đó diện tích đất làm kho tàng, nhà xưởng, cơ sở sản xuất.....

9. Các thông tin khác: báo cáo về các thông tin liên quan đến sai sót kế toán phát hiện trong kỳ báo cáo ( nếu có), thông tin về chênh lệch giữa thu nhập chịu thuế và lợi nhuận kế toán.

Dự thảo cũng quy định rõ rằng công ty mẹ trong tập đoàn kinh tế Nhà nước, công ty mẹ trong tổng công ty Nhà nước cần công khai thêm thông tin về số lượng doanh nghiệp thành viên trong tập đoàn, tổng công ty, số doanh nghiệp kinh doanh có lãi, số doanh nghiệp kinh doanh lỗ, số doanh nghiệp kinh doanh hoà vốn, nguyên nhân chính dẫn đến kết quả kinh doanh thua lỗ của doanh nghiệp.


(Theo Taichinhdientu)

CEO tài chính, thu nhập bao nhiêu?

Các CEO thuộc Câu lạc bộ Doanh nhân 2030 trong một buổi sinh hoạt dã ngoại - Ảnh: Lê Toàn.

Cạnh tranh nhất trong khối tài chính hiện nay là tìm CEO cho các ngân hàng
Sau 10 năm ngồi ở chiếc ghế giám đốc điều hành (CEO) một công ty chứng khoán nơi Nhà nước còn nắm giữ cổ phần chi phối với mức lương lúc cao nhất khoảng 10 triệu đồng/tháng, ông xin nghỉ việc vì sức khỏe.

Những tưởng có thể nghỉ ngơi vài tháng, rồi kiếm việc ít căng thẳng hơn để làm. Nhưng tháng sau gặp lại, đã thấy ông ở vị trí CEO một công ty khác với mức thu nhập chừng 12.000 Đô la Mỹ/tháng. Đấy có lẽ là mức lương cao nhất trong khối chứng khoán hiện nay.

Các công ty chứng khoán bây giờ có hai mối lo về nhân sự: CEO và nhân viên môi giới. Tuyển nhân viên môi giới phải có đủ chứng chỉ do Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cấp, rồi phải đào tạo cho quen với môi trường. Tuyển CEO còn khó hơn. Hai năm trước ngày chính thức hoạt động, một công ty liên doanh chứng khoán với nước ngoài đã phải tìm cách tiếp cận tổng giám đốc một công ty chứng khoán lớn, đưa đi đào tạo ở Singapore và trả lương chẳng khác gì người cùng cấp bậc ở đảo quốc này.

Mặt bằng thu nhập của CEO chứng khoán hiện tại khá đa dạng, phụ thuộc vào trình độ, kinh nghiệm và yếu tố CEO có phải cổ đông lớn của công ty không. Nếu CEO được thuê hoàn toàn, và không nắm giữ cổ phiếu công ty, thu nhập của họ chừng 70-80 triệu đồng/tháng. Đi kèm là những khoản thưởng hậu hĩ. Chẳng hạn CEO và ban giám đốc được thưởng 10% trên phần lợi nhuận vượt chỉ tiêu mà đại hội cổ đông thông qua.

Ở những công ty mà CEO là cổ đông sáng lập, nắm giữ tỷ lệ cổ phần tương đối khá, mức lương chỉ có tính chất tượng trưng, khoảng 30-40 triệu/tháng. CEO một công ty chứng khoán đang niêm yết trên HNX cho biết năm năm trước, khi ở vị trí tổng giám đốc công ty chứng khoán lớn nhất nhì thị trường, bà nhận lương 20 triệu đồng/tháng. Nay làm CEO công ty của mình, lương của bà cũng chỉ nhỉnh hơn chút ít mức đó, 25 triệu đồng/tháng.

“Công ty kinh doanh hiệu quả, lợi nhuận năm sau cao hơn năm trước, tôi có cổ phần trong đó, nhận cổ tức nhiều hơn, giá cổ phiếu cao hơn, thế là tốt rồi”, bà nói.

Một số công ty chứng khoán “săn lùng” CEO từ nguồn nhân viên có năng lực của các ngân hàng, nhất là ngân hàng nước ngoài, hoặc từ cơ quan quản lý ngành. Một số nhân viên là trưởng, phó phòng các bộ phận của cơ quan nhà nước lĩnh vực tài chính, đã quyết định rời bỏ sự nghiệp công chức, đầu quân cho các công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ. Ngoài CEO, vị trí CFO (giám đốc tài chính) cũng đang là “lỗ hổng” nhân sự của không ít công ty đại chúng, đặc biệt những công ty lớn.

Việt Nam hiện có gần 100 công ty chứng khoán, tìm 100 CEO cho các đơn vị này không dễ. Tuy nhiên, hầu hết công ty chứng khoán quy mô còn nhỏ, mới ra đời 2-3 năm, nên ít nhiều các ông chủ đầu tư còn du di về kinh nghiệm khi tuyển chọn. Cạnh tranh nhất trong khối tài chính hiện nay là tìm CEO cho các ngân hàng. Một đối tác nước ngoài đang ráo riết “săn” người có thể đảm đương chức vụ CEO ngân hàng. Hỏi ra mới biết họ đang thương lượng mua cổ phần ngân hàng đó và tìm một CEO đủ năng lực thực hiện việc cải tổ hiệu quả kinh doanh.

Được tranh luận rôm rả gần đây trong giới tài chính là việc ngân hàng X tìm CEO. Ba năm vừa qua, tổng giám đốc đương nhiệm của ngân hàng này lãnh lương 300.000 Đô la Mỹ/năm, tức 25.000 Đô la Mỹ/tháng, chưa kể thưởng, quyền mua cổ phiếu ưu đãi và các quyền lợi khác. X làm ăn khá hiệu quả và vị CEO có ý định rút về làm thành viên hội đồng quản trị. Như vậy phải tìm một tổng giám đốc mới và nhân sự được đưa vào tầm ngắm là tổng giám đốc ngân hàng Y. Ban đầu mức lương ngân hàng X chào mời cho CEO đương nhiệm của ngân hàng Y khoảng 1 triệu Đô la/năm, sau đó tăng dần. Một nguồn tin đáng tin cậy nói mức lương chào sau chót là 1,2 triệu Đô la Mỹ/năm chưa kể các ưu đãi đi kèm.

Người được chào mức lương cao nhất trong giới ngân hàng từ trước đến nay đó, nói: “Hợp đồng của tôi với ngân hàng Y chưa kết thúc và tôi không nghĩ đến việc chuyển nơi công tác khi hợp đồng mà tôi đã ký vẫn còn hiệu lực”. Chỉ đến khi đại hội cổ đông năm 2010 của ngân hàng Y diễn ra, một số cổ đông chất vấn và tổng giám đốc đứng lên khẳng định sẽ gắn bó lâu dài với ngân hàng Y, mọi chuyện mới lắng xuống.

CEO ngân hàng trong giai đoạn này, như một số công ty “săn đầu người” nhận xét, ngoài kinh nghiệm điều hành lâu năm, hiểu biết nghiệp vụ, thông thạo tiếng Anh đến mức có thể giao tiếp trực tiếp với đồng nghiệp nước ngoài và chủ động trong các chuyến làm việc ở nước ngoài, còn phải nhanh nhạy, tinh thông. Sự nhanh nhạy được giải thích là nắm bắt chính xác chủ trương điều hành và diễn biến của kinh tế vĩ mô để đưa ngân hàng vận động kịp thời, tận dụng cơ hội, tránh rủi ro nếu có.

Trong giới ngân hàng, đang có, tuy chưa nhiều, một số CEO sắc sảo và giấu mình như thế. Có người từng du học ở nước ngoài, thông thạo hai ngoại ngữ, đã từng làm việc trong doanh nghiệp nhà nước, hiểu cơ chế quản lý của quốc doanh - và bây giờ là dân doanh, kinh nghiệm không thiếu, nhưng họ ít khi xuất hiện trên báo chí. Với họ, cánh nhà báo phải vất vả để có một cuộc phỏng vấn, nhất là phỏng vấn về chuyện nhạy cảm như tiền lương. Có thể phỏng đoán gần chính xác rằng thu nhập của họ hiện không dưới 10.000 Đô la Mỹ/tháng.

Hải Lý (TBKTSG)

Thứ Hai, 21 tháng 6, 2010

Kẻ khóc, người cười sau sốt đất Hà Nội

Trong cơn sốt quay cuồng vừa qua, nhiều người kiếm bộn tiền song cũng không ít trường hợp khuynh gia bại sản chỉ vì đổ xô mua đất Hà Nội theo tâm lý đám đông, đồn thổi.

Anh Thế Học, nhân viên PR của một tập đoàn lớn là trường hợp may mắn trong cơn sốt đất vừa qua. Có người bạn học phổ thông là cò đất chuyên nghiệp tại khu vực Gia Lâm tư vấn, anh quyết chí đổi đời bằng đầu tư bất động sản. Tích góp suốt từ năm 2008, huy động đủ mọi nguồn lực bổ sung, anh có trong tay hơn một tỷ đồng.

Lùng sục khắp nơi từ nội đến ngoại thành, cuối cùng anh quyết định đầu tư 53 m2 đất nền ở khu vực Gia Lâm với giá 25 triệu đồng mỗi m2. Hơn một tháng sau, giá đất lên tới 34 triệu đồng. "Chỉ trong khoảng 2 tháng đã lãi được gần 500 triệu đồng. Trong khi một tháng, ky cóp bỏ lợn mãi cũng chỉ được khoảng 4-5 triệu đồng", anh Học hồ hởi nói.

Tiền lãi anh lại tiếp tục đầu tư đất làng ở huyện Thanh Oai gần mặt đường to với giá một triệu đồng một m2. Hai tuần sau, đất đã lên tới 3 triệu đồng. Giá đất thổi liên tục, anh nhanh tay lướt sóng rồi tiếp tục mua đi bán lại, tổng số lãi lên tới gần 3 tỷ đồng.

Ảnh: Hoàng Hà
Cần quản lý tốt để tránh trường hợp đầu cơ, kích giá. Ảnh: Hoàng Hà

Bác Đắc Lân ở thôn Cao Mật, Thanh Oai cho biết, cả làng không biết bao nhiêu người đã đổ xô cắt đất vườn để bán, thu về hàng trăm triệu đồng. Không ít người mua xe tay gas phóng vèo vèo, rồi sắm cả tivi LCD để xem.

Tuy nhiên, không phải ai cũng may mắn. Cơn sốt đất diễn ra chỉ trong khoảng 2 tháng cũng khiến không ít người khuynh gia bại sản. Lan Anh, nhân viên một ngân hàng ở Hà Nội, cho hay, thấy cơn sốt đất lan rộng, chị cũng tấp tểnh đầu tư vào bất động sản. Tuy nhiên, Lan Anh đang khốn khổ với khoản đầu tư của mình.

Trong đợt sốt đất vừa qua, cô đã nhanh tay "ôm" hai lô đất rộng 100 m2 ở dự án Chi Đông, Mê Linh với giá 10 triệu đồng mỗi m2. Để mua được hai lô đất này, bố mẹ Lan Anh phải bán gần 70 m2 ở quê nhà Phủ Lý và vay thêm tiền ngân hàng.

Trong khi đất sốt, hàng chục người hỏi mua và đã có lãi thì cô lại chưa muốn bán, chờ giá tiếp tục lên. Bất ngờ, thị trường chững lại, Lan Anh chỉ còn biết khóc dở mếu dở. "Mới chỉ đóng 50% tiến độ, một tháng sau mà không lo được một tỷ đồng còn lại tôi sẽ buộc phải bán lúa non, ước chừng lỗ khoảng 500 triệu đồng", Lan Anh ngán ngẩm.

Khu vực phía Tây sau một thời gian sôi động giờ đã vắng bóng người mua. Kẻ thức thời, nhanh nhạy đã xả hết hàng, thu về tiền tỷ. Người chậm chân chỉ còn biết ngẩn ngơ nhìn thị trường xuống dốc. Thế nhưng, không chỉ có người buôn đất nghiệp dư lâm vào tình trạng sống dở chết dở mà chính dân đầu tư bất động sản chuyên nghiệp cũng mắc cạn.

Anh Hưng, một môi giới đồng thời là nhà đầu tư cho biết, ngay từ khi khu vực phía Tây chưa sốt, anh đã tranh thủ mua hơn 1.000 m2 ở thôn Mái, xã Yên Bài, huyện Ba Vì gần mặt đường với giá 1,8 triệu đồng một m2. Chưa thỏa mãn, anh ôm cả 4 lô đất ở khu Geleximco hết gần 8 tỷ. Đến nay, thị trường xuống dốc, bán đi không được, giữ lại thì bị đọng vốn lớn, anh chỉ còn biết ngồi chờ cơn sốt tiếp theo của địa ốc Hà Nội.

Theo ông Phạm Trung Hà, Tổng Giám đốc Hòa Phát Land, cơn sốt đất ở khu vực xa trung tâm giống như hiệu ứng vết dầu loang khi giá đất nội thành bị đẩy lên quá cao. Khi thị trường lên cơn sốt, nhiều người có cảm giác kiếm tiền dễ dàng nên lực lượng đầu tư vào bất động sản càng đông. Trong số đó phải kể đến giới công sở có lượng tiền nhàn rỗi không nhỏ và khả năng tiếp cận thông tin qua truyền thông rất nhanh.

"Tuy nhiên, những người dân nghiệp dư thường hiếm người hiểu rõ về bản chất cũng như diễn biến phức tạp của thị trường nên dễ gặp rủi ro hơn các nhà đầu tư chuyên nghiệp", ông Hà nói.

Trao đổi với VnExpress.net, ông Nguyễn Mạnh Hà, Cục trưởng Cục Quản lý Nhà và Thị trường bất động sản, Bộ Xây dựng cho hay, nguyên nhân gây sốt đất vừa qua chủ yếu đầu tư theo phong trào, tâm lý đám đông đặc biệt phải kể đến giới đầu cơ thổi giá, kích giá làm giá ảo. Theo ông Hà, mong muốn kiếm được lợi nhuận khi đầu tư vào đất đai của người dân là hoàn toàn chính đáng. Vấn đề là phải quản lý tốt để tránh ảnh hưởng đến quy hoạch, đến thị trường bất động sản và đời sống của chính người dân.

Hiện nay toàn bộ khu vực phía tây đang có dự kiến quy hoạch nhưng chi tiết vẫn còn nằm trên bàn nghị sự. Người dân khi mua bán, chuyển nhượng mà không phù hợp với quy hoạch chi tiết có thể dẫn đến tiền mất tật mang. "Trước khi mua bán, người dân cần xem xét cơ hội, cân nhắc kỹ để đầu tư cho hiệu quả", ông Hà nhận định.


(Theo Vnexpress)

Thứ Năm, 17 tháng 6, 2010

HAG công bố ước lãi 1.379 tỷ đồng trong 6 tháng

picture

Một dự án của HAG.

Lợi nhuận trước thuế quý 2/2010 của HAG dự kiến đạt khoảng 700 tỷ đồng, lũy kế 6 tháng dự kiến đạt 1.379 tỷ đồng

Hội đồng Quản trị Công ty Cổ phần Hoàng Anh Gia Lai (mã HAG-HOSE) vừa công bố kết quả kinh doanh quý 2/2010, phương án chia cổ tức bằng tiền và phát hành cổ phiếu thưởng và tái cấu trúc các công ty trong Tập đoàn.

Cụ thể: lợi nhuận trước thuế quý 2/2010 của HAG dự kiến đạt khoảng 700 tỷ đồng, lũy kế 6 tháng dự kiến đạt 1.379 tỷ đồng, bằng 52% kế hoạch năm 2010.

HAG cho biết, các dự án có khả năng tạo đột biến trong kết quả kinh quý 4/2010 nếu thị trường bất động sản hồi phục tốt như: Dự án Thanh Bình, Hoàng Anh Incomex, Phú Hoàng Anh giai đọan 2.

Trong quý 3/2010, HAG sẽ trả cổ tức bằng tiền với tỷ lệ 10% (1 cổ phiếu được nhận 1.000 đồng) và trong quý 4/2010, HAG sẽ phát hành cổ phiếu thưởng với tỷ lệ 2:1. Nguồn vốn phát hành được lấy từ thặng dư vốn cổ phần và từ lợi nhuận chưa phân phối.

Bên cạnh đó, Hội đồng Quản trị công ty đã thống nhất tái cấu trúc các công ty trong Tập đoàn với cấu trúc mới gồm: 1 công ty mẹ và 5 tổng công ty con quản lý 5 ngành nghề kinh doanh: Tổng công ty Bất động sản; Tổng công ty Cao su; Tổng công ty Khoáng sản; Tổng công ty Thủy điện và Tổng công ty Gỗ, Đá.

Đồng thời, bán 10% cổ phần cho Tổng công ty Khoáng sản và Tổng công ty Bất động sản cho các đối tác chiến lược và chuẩn bị cho việc IPO trong tương lai.

Hội đồng Quản trị ủy quyền cho Chủ tịch Hội đồng Quản trị và Ban giám đốc chọn thời điểm thích hợp và chủ động triển khai cụ thể các vấn đề trên.

(Theo Vneconomy)

Hướng dẫn lập và quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình

Ảnh minh họa.
Bộ Xây dựng vừa ban hành Thông tư 04/2010/TT-BXD ngày 26/5/2010 hướng dẫn lập và quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình. Thông tư này sẽ thay thế cho Thông tư số 05/2007/TT-BXD và Thông tư số 18/2008/TT-BXD của Bộ Xây dựng.

Theo đó, lập và quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình, bao gồm: Tổng mức đầu tư xây dựng công trình (gọi tắt là tổng mức đầu tư), dự toán xây dựng công trình (dự toán công trình), định mức xây dựng và giá xây dựng công trình của các dự án sử dụng 30% vốn nhà nước trở lên, bao gồm: vốn ngân sách nhà nước, vốn hỗ trợ phát triển chính thức (gọi tắt là vốn ODA), vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước, vốn tín dụng do nhà nước bảo lãnh và vốn đầu tư khác của nhà nước.

Đối với dự án sử dụng vốn ODA, nếu điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có những quy định về quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình khác với quy định của Thông tư này thì thực hiện theo các quy định tại điều ước quốc tế đó.

Đối tượng áp dụng là các tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc lập và quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình, thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, thanh toán vốn đầu tư xây dựng công trình của các dự án sử dụng 30% vốn nhà nước trở lên.

Khuyến khích các tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc lập và quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình của các dự án sử dụng ít hơn 30% vốn nhà nước áp dụng Thông tư này.

So với Thông tư số 05/2007/TT-BXD và Thông tư số 18/2008/TT-BXD, Thông tư số 04/2010/TT-BXD có nhiều điểm mới. Bố cục của Thông tư cũng có nhiều thay đổi và được chia thành các điều, khoản, mục. Các nội dung về lập và quản lý chi phí như: Tổng mức đầu tư, dự toán xây dựng công trình, định mức, đơn giá, ... được thể hiện rõ ràng, các tác giả soạn thảo đã bổ sung và sửa đổi nhiều vấn đề phù hợp với thực tế đầu tư xây dựng công trình trong thời gian qua. Việc tính toán xác định tổng mức đầu tư, dự toán xây dựng công trình, định mức, đơn giá, ... có nhiều điểm mới. Trong báo cáo thẩm tra tổng mức, dự toán có quy định phải ghi rõ họ tên, chữ ký của người thực hiện, người kiểm tra và thủ trưởng đơn vị ký tên, đóng dấu. Ngoài ra người kiểm tra bắt buộc phải ghi rõ số và hạng chứng chỉ kỹ sư định giá.

Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 15/7/2010.

(Theo Báo điện tử ĐCSVN)

Chính sách thuế: Sửa nhiều doanh nghiệp vẫn "kêu"

Có những đối xử bất công bằng cộng với thủ tục rườm rà đã khiến cho doanh nghiệp nhiều khi chỉ biết “kêu trời” vì chính sách thuế.

Thứ trưởng Bộ Tài chính Đỗ Hoàng Anh Tuấn chủ trì buổi đối thoại sáng 16/6.

Lãnh đạo một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực khai thác khoáng sản đã than như vậy tại buổi đối thoại giữa đại diện Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế với hàng trăm doanh nghiệp trên cả nước, diễn ra sáng 16/6.

Và một lần nữa, bài ca muôn thủa đến từ đại diện các doanh nghiệp lẫn cơ quan quản lý theo kiểu “ai cũng đúng” đã được các đại biểu đưa ra nhằm bảo vệ cho những luận điểm của mình khi nói về tính cải cách hay bất cập của chính sách thuế hiện nay.

Cải cách là... trọng tâm?

Tại hội nghị, Phó vụ trưởng Vụ chính sách thuế (Bộ Tài chính) Nguyễn Văn Phụng cho hay, tính đến nay, cơ quan này đã hủy bỏ được 11 thủ tục hành chính, thay thế 4 thủ tục mới, sửa đổi bổ sung 243 thủ tục, đơn giản hóa được 76% và cắt giảm được 36,1% chi phí tuân thủ.

Theo ông Phụng, đây là nỗ lực rất lớn của ngành thuế nhằm tạo điều kiện cho doanh nghiệp trong việc thực hiện các nghĩa vụ cũng như các dịch vụ về thuế. Đặc biệt, để giảm mức điều tiết, khuyến khích hơn nữa đối với sản xuất kinh doanh và xuất khẩu, khuyến khích đầu tư, bộ Bộ Tài chính đã quyết định mở rộng diện áp dụng thuế suất 0% để khấu trừ và hoàn thuế đầu vào cho hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu, kể cả xuất khẩu tại chỗ.

Đồng thời, Bộ cũng ban hành chính sách không thu thuế đối với vật tư nguyên liệu để sản xuất hàng hóa xuất khẩu, khấu trừ toàn bộ thuế giá trị gia tăng đối với tài sản cố định của doanh nghiệp, mở rộng diện hàng hóa chịu thuế giá trị gia tăng để doanh nghiệp được khấu trừ liên hoàn đối với tất cả đầu vào.

Đặc biệt, trong Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp năm 2008 đã hạ mức thuế suất từ 28% xuống còn 25%; bỏ thuế suất 15%, bỏ thuế suất lũy tiến để áp dụng mức thống nhất 25% đối với thu nhập từ bất động sản.

Cũng trong thời gian qua, cơ quan thuế đã rà soát lại và bãi bỏ trên 300 loại phí và lệ phí, thống nhất áp dụng và giảm mức thu đối với hàng chục loại phí, lệ phí nhằm tạo điều kiện cho doanh nghiệp giảm chi phí đầu vào và tránh được nhiều thủ tục phiền hà.

Trong khi đó, theo Thứ trưởng Bộ Tài chính kiêm Tổng cục trưởng Tổng cục thuế Đỗ Hoàng Anh Tuấn, dù đã cố gắng nhiều song cơ quan thuế xác định, trong năm nay và cả những năm tiếp theo, cải cách các thủ tục liên quan đến chính sách thuế vẫn là nhiệm vụ trọng tâm của Bộ và ngành thuế.

Tuy nhiên, vị đứng đầu Tổng cục thuế này cũng bày tỏ thất vọng khi đưa ra những dẫn chứng mà theo ông là đáng buồn, khi chủ trương lấy ý kiến đóng góp hoặc trao đổi thẳng thắn với doanh nghiệp qua nhiều phương thức lại dường như không được cộng đồng doanh nghiệp ủng hộ.

Bằng chứng mà ông Tuấn đưa ra là, hiện Bộ đang xin ý kiến các doanh nghiệp để sửa đổi Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp với rất nhiều thay đổi đáng chú ý liên quan đến lợi ích của các doanh nghiệp. Thế nhưng, sau hơn 2 tháng phát đi, cơ quan này mới chỉ nhận được vẻn vẹn 3 kiến đóng góp từ doanh nghiệp.

Vẫn chưa hài lòng

Theo những thống kê được ngành thuế đưa ra để minh chứng cho nỗ lực cải cách của mình thì có vẻ đã khiến cho các doanh nghiệp tạm hài lòng. Thế nhưng, tại buổi đối thoại trên, rất nhiều doanh nghiệp vẫn tỏ ra bức xúc với các thủ tục cũng như cung cách làm việc của cán bộ ngành thuế hiện nay.

Một vị đại diện cho Tổng công ty Khoáng Sản (thuộc TKV) bức xúc: doanh nghiệp của ông khai thác khoáng sản ở nhiều nơi nên cơ quan thuế mỗi nơi thu một mức thuế suất khác nhau và mức chênh lệch lại rất cao. Trong khi đó, sản phẩm mà công ty này đem bán lại có một mức giá chung thống nhất.

“Rõ ràng có sự bất hợp lý trong cách đánh thuế hiện nay khiến doanh nghiệp chịu thiệt thòi”, vị này nói.

Tiếp thu ý kiến trên, Thứ trưởng Đỗ Hoàng Anh Tuấn hứa sẽ xem xét và có sự chỉ đạo thích hợp. Riêng đối với các địa phương thu vượt ngoài danh mục đã nêu là trái với quy định, cần phải chỉnh đốn.

Thế nhưng, theo ông Phạm Quang Toàn (Công ty Điện tử LG), những bất cập của ngành thuế không chỉ dừng lại ở chính sách mà còn ở thái độ của cán bộ ngành thuế. Ông Toàn cho biết, vừa qua doanh nghiệp này đã nộp một khoản thuế 2,4 tỷ đồng. Tuy nhiên, sau đó, cơ quan thuế xác định là không phải nộp khoản này, nhưng đến nay hơn 3 tháng sau khi có quyết định nhưng cũng không có cơ quan nào đứng ra hướng dẫn hoàn thuế dù doanh nghiệp này đã gõ cửa nhiều bộ phận trong ngành thuế.

Còn theo bà Nguyễn Thùy Linh (Công ty Dây cáp điện Ngọc Khánh), do đặc thù của doanh nghiệp này là phải sử dụng thiết bị, công nghệ ngoại nhập nên phải thuê chuyên gia của nước ngoài sang vận hành, hướng dẫn đào tạo.

Thế nhưng, ngoài việc tính thuế thu nhập cá nhân đối với các chuyên gia trên, cơ quan thuế còn yêu cầu doanh nghiệp này nộp khoản thuế di chuyển của các chuyên gia, trong khi họ nhất quyết không đồng ý nộp đã khiến cho hợp đồng làm việc giữa doanh nghiệp này với các chuyên gia gặp khó khăn.

Phó chủ tịch Hiệp hội tư vấn xây dựng Việt Nam Nguyễn Văn Châu thì phàn nàn về thuế suất đối với các doanh nghiệp trong lĩnh vực tư vấn kỹ thuật, xây dựng.

Theo ông Châu, định mức chi phí tư vấn hiện cơ quan thuế vẫn dựa vào những định mức do Bộ Xây dựng công bố, song trong định mức đó có nhiều yếu tố chi phí chưa được tính vào giá tư vấn như chi phí đào tạo, mua phần mềm... nên rốt cục là thuế thu nhập doanh nghiệp của các đơn vị này đã phải chịu cao hơn thực tế.

Còn theo ông Nguyễn Văn Toàn, Phó chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp đầu tư nước ngoài, chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp kinh doanh sân golf hiện nay là bất hợp lý.

Theo ông, việc đánh thuế tiêu thụ đặc biệt đối với Buggy (xe vận chuyển) và Caddy (người đẩy xe thuê) trên sân golf là không hợp lý và bất công bằng đối với các doanh nghiệp.

Ông Toàn cho hay, hiện pháp luật quy định những dịch vụ nào ở dạng bắt buộc phải có trong kinh doanh sân golf mới ở diện chịu thuế tiêu thu đặc biệt, trong khi cả 2 dịch vụ trên đều lại là những dịch vụ không bắt buộc, nghĩa là không có nó thì hoạt động chơi golf vẫn diễn ra bình thường.

Hơn nữa, đối với rất nhiều doanh nghiệp kinh doanh sân golf hiện nay, các chi phí cho dịch vụ trên lại chiếm đến 20% doanh số, nên nếu cơ quan thuế tính gộp vào diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt thì lợi nhuận của doanh nghiệp sân golf đã bị ảnh hưởng nghiêm trọng.

Đáp lại những băn khoăn trên, Thứ trưởng Đỗ Hoàng Anh Tuấn khẳng định, nỗ lực cải cách thủ tục, chính sách thuế luôn là ưu tiên hàng đầu của cơ quan này. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, do Chính phủ đã có những quy định hướng dẫn từ trước song do doanh nghiệp không tham khảo kỹ hoặc thiếu thiện chí hợp tác với cơ quan thuế nên dẫn đến những kết quả ngoài mong muốn của cả hai bên.

“Ngay chuyện chuyển việc từ kê khai thuế thủ công sang kê khai qua mạng mang lại rất nhiều lợi ích cho doanh nghiệp nhưng kết quả thí điểm tại 4 cục thuế trên cả nước thì ở Tp.HCM cũng chỉ có 400 doanh nghiệp triển khai, Hà Nội hơn 100, Bà Rịa – Vũng Tàu còn thấp hơn nữa...” Thứ trưởng Tuấn cho biết.

Nguồn: Từ Nguyên - VnEconomy

Thứ Tư, 16 tháng 6, 2010

Nhập nhèm góp vốn bằng thương hiệu

Nhiều doanh nghiệp có giá trị thương hiệu lên đến hàng tỷ USD nhưng vì cách cấm không chặt chẽ và rõ ràng nên giá trị thương hiệu của nhiều doanh nghiệp có phần bị “chia sẻ” tùy tiện - Ảnh minh họa.

Đã và đang có tình trạng doanh nghiệp “lách” hoặc “chui” để góp vốn bằng thương hiệu
Việc Bộ Tài chính nói “không” với yêu cầu được góp vốn bằng thương hiệu của các doanh nghiệp đã và đang dẫn đến tình trạng các doanh nghiệp “lách” hoặc “chui” để góp vốn.

Tuy nhiên, cơ quan chức năng cũng chưa hề có ý kiến về những trường hợp này. Giá trị thương hiệu của một số công ty lớn có thể đang bị pha loãng.

Trên thị trường chứng khoán, nhắc đến "SD", giới đầu tư hiểu là một doanh nghiệp có “họ” với Tổng công ty Sông Đà; những doanh nghiệp có mã chứng khoán "VC" được hiểu “có thể là một công ty con của Vinaconex”.

Việc các doanh nghiệp góp vốn bằng thương hiệu vào doanh nghiệp khác đang diễn ra bằng cách này hoặc cách khác mặc dù chuẩn mực kế toán không cho phép. Trong khi các văn bản của ngành tài chính không thừa nhận loại tài sản vô hình này là tài sản, thì giá trị thương hiệu của các doanh nghiệp lớn vẫn đang hiển hiện và có giá trị rất lớn đối với một doanh nghiệp mới thành lập được khoác chiếc áo “có họ hàng”.

Quyết định 203/BTC về Chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao tài sản cố định nêu rõ: “Các chi phí phát sinh trong nội bộ để doanh nghiệp có nhãn hiệu hàng hóa không được xác định là tài sản cố định vô hình mà hạch toán vào chi phí kinh doanh trong kỳ”.

Quyết định này không thừa nhận giá trị thương hiệu là tài sản cố định vô hình. Trong chuẩn mực kế toán 04 của Bộ Tài chính, thương hiệu cũng không được xem là tài sản và do đó không được góp vốn.

Theo ông Phạm Duy Khương, Phó tổng cục trưởng, Tổng cục Thuế, thương hiệu mặc dù là tài sản vô hình được tạo từ nội bộ doanh nghiệp nhưng họ không được ghi nhận là tài sản vì nhiều lý do.

Thứ nhất, thương hiệu không phải là nguồn lực có thể xác định được, không đánh giá được một cách đáng tin cậy và doanh nghiệp không kiểm soát được.

Chính vì lý do đó, trước đây, Công ty Kinh Đô đã từng bị Bộ Tài chính trả lời không được phép khi công ty này có ý định góp vốn bằng thương hiệu vào doanh nghiệp khác. Vì các lý do này, các công ty không được góp vốn thành lập công ty cổ phần bằng giá trị quyền sử dụng thương hiệu.

Tổng cục Thuế có ý kiến kết luận “doanh nghiệp có thể tự xác định giá trị thương hiệu nhưng không được ghi tăng nguồn vốn chủ sở hữu”.

Có ý kiến cho rằng giá trị thương hiệu là có thể xác định được để phân biệt lợi thế thương mại, thêm vào đó, có thể xác định được thông qua việc góp vốn với doanh nghiệp khác và được định giá do các thành viên, cổ đông sáng lập theo nguyên tắc nhất trí hoặc do tổ chức định giá chuyên nghiệp định giá.

Thứ hai, việc góp vốn bằng thương hiệu là có thể kiểm soát được, doanh nghiệp có quyền thu lợi ích kinh tế trong tương lai mà tài sản đó đem lại và lợi ích kinh tế trong tương lai mà thương hiệu đem lại có thể làm tăng doanh thu hoặc lợi ích khác.

Theo ông Bùi Văn Mai, Phó Chủ tịnh Thường trực kiêm Tổng Thư ký Hội kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA), hiện nay một số công ty đã làm việc này, về mặt pháp lý việc góp vốn bằng thương hiệu là không được và giá trị thương hiệu chỉ được xác định khi có mua bán thật sự theo thỏa thuận của hai bên hoặc của một bên thứ ba.

Trước đây, Văn phòng Chính phủ đã cho phép thí điểm thực hiện việc góp vốn bằng thương hiệu nhưng về sau lại không thấy văn bản pháp luật quy định cụ thể.

Ý kiến của VACPA là Nhà nước nên quy định tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn nhất định của việc góp vốn bằng thương hiệu thông qua các văn bản pháp luật chỉ đạo. Một chuyên gia về định giá cho rằng chuyện góp vốn bằng thương hiệu là có thể được, và thực tế đang diễn ra dù Bộ Tài chính không đồng tình.

Do đó, có doanh nghiệp sẽ hạch toán thương hiệu vào mục “phí thuê thương hiệu”, còn nếu muốn nhập nhèm, doanh nghiệp sẽ tìm cách “lách”.

“Một đơn vị sản xuất mới chưa có thương hiệu được mang thương hiệu của một đơn vị khác đã có danh tiếng thì giá trị hàng hóa sẽ tăng. Tuy nhiên, một thương hiệu đem góp vào nhiều doanh nghiệp khác nhau sẽ làm loãng giá trị. Bởi vì, với một tổng công ty hoạt động tại một phạm vi này thì giá trị thương hiệu khác, nhưng nếu góp vốn vào nhiều doanh nghiệp khác nhau thì giá trị thương hiệu có thể giảm dần”, ông Mai phân tích.

Như vậy, nhiều doanh nghiệp có giá trị thương hiệu lên đến hàng tỷ USD nhưng vì cách cấm không chặt chẽ và rõ ràng nên giá trị thương hiệu của nhiều doanh nghiệp có phần bị “chia sẻ” tùy tiện.

Ông Mai cho rằng, Nhà nước cần có quy định rạch ròi để giám sát kiểm tra việc góp vốn bằng thương hiệu, nếu không các doanh nghiệp sẽ mạnh ai nấy làm. Có thể sẽ có trường hợp bên nhận góp vốn lạm dụng thương hiệu, làm giảm giá trị thương hiệu.

Trong khi đó, ở các nước, khi một doanh nghiệp sử dụng thương hiệu của doanh nghiệp khác phải ký cam kết chặt chẽ về tiêu chuẩn, điều kiện sử dụng thương hiệu, quy định chi tiết cách sử dụng màu, kích thước và điều kiện sử dụng logo.

(Theo Vneconomy)

Sự thật về những chủ nợ lớn nhất của Mỹ

Trung Quốc chưa phải là chủ nợ lớn nhất của Mỹ - Ảnh: Getty.

Nếu xét cả các đối tượng chủ nợ khác của Washington, thì Trung Quốc vẫn chưa phải là chủ nợ số 1
Trong số các quốc gia nắm giữ trái phiếu kho bạc Mỹ, Trung Quốc là nước chủ nợ lớn nhất. Tuy nhiên, nếu xét cả các đối tượng khác, thì Trung Quốc vẫn chưa phải là chủ nợ số 1.

Hãng tin CNBC cho biết, đối tượng nắm giữ nhiều nhất trong tổng số nợ Mỹ đã vượt quá con số 13.000 tỷ USD hiện nay, chính là các nhà đầu tư thuộc khu vực tư nhân. Các tổ chức thuộc khu vực công nắm giữ 40% số nợ này.

Dưới đây là danh sách 15 chủ nợ lớn nhất của Mỹ do CNBC liệt kê theo thứ tự từ dưới lên:

15. Đài Loan

Tổng số trái phiếu kho bạc Mỹ đang nắm giữ: 126,9 tỷ USD

Trong vòng 1 năm qua, vùng lãnh thổ này đã nâng số nợ Mỹ nắm giữ thêm 60% và vượt qua Nga trong danh sách các chủ nợ của Mỹ. Hiện Nga chỉ nắm lượng trái phiếu Chính phủ Mỹ với tổng trị giá 113,1 tỷ USD.

14. Hồng Kông

Tổng số trái phiếu kho bạc Mỹ đang nắm giữ: 151,8 tỷ USD

Trong thời gian từ tháng 4/2009 tới nay, số trái phiếu kho bạc Mỹ do Hồng Kông nắm giữ đã tăng gần gấp đôi, từ 80,9 tỷ USD lên 151,8 tỷ USD, đưa vùng lãnh thổ này vào danh sách những chủ nợ hàng đầu của nền kinh tế lớn nhất thế giới.

13. Các ngân hàng ở vùng Caribbean

Tổng số trái phiếu kho bạc Mỹ đang nắm giữ: 153,2 tỷ USD

Bộ Tài chính Mỹ đưa các định chế tài chính thuộc các quốc gia và vùng lãnh thổ Bahamas, Bermuda, Cayman Islands, Netherlands Antilles, Panama và British Virgin Islands vào nhóm chủ nợ này. Mức nợ Mỹ mà nhóm này nắm giữ hiện tăng khá mạnh so với mức 106,6 tỷ USD vào tháng 6/2008, nhưng vẫn còn thua mức kỷ lục 216,3 tỷ USD đạt được vào tháng 3/2009.

12. Brazil

Tổng số trái phiếu kho bạc Mỹ đang nắm giữ: 164,3 tỷ USD

Trong vòng hai năm qua, cường quốc kinh tế Nam Mỹ này liên tục tăng rồi lại giảm lượng nợ Mỹ trong kho dự trữ ngoại hối của mình. Tháng 2/2010, Brazil nắm 170,8 tỷ USD trái phiếu kho bạc Mỹ, nhiều nhất từ trước tới nay.

11. Các định chế tiền gửi

Tổng số trái phiếu kho bạc Mỹ đang nắm giữ: 206,6 tỷ USD

Nhóm chủ nợ này bao gồm các ngân hàng thương mại, ngân hàng tiết kiệm và hợp tác xã tín dụng. Theo số liệu mới nhất, tính tới quý 4/2008, nhóm này nắm 206,6 tỷ USD nợ Mỹ, tăng gần gấp đôi so với trước đó 1 năm.

10. Các công ty bảo hiểm

Tổng số trái phiếu kho bạc Mỹ đang nắm giữ: 235,7 tỷ USD

Theo Hội đồng Thống đốc Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED), các công ty bảo hiểm đang giữ 235,7 tỷ USD trái phiếu kho bạc nước này. Trong nhóm chủ nợ này có các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ, tài sản và thương vong.

9. Các nước xuất khẩu dầu

Tổng số trái phiếu kho bạc Mỹ đang nắm giữ: 239,3 tỷ USD

Với nguồn tiền dồi dào thu về từ xuất khẩu dầu thô, các quốc gia xuất khẩu dầu đầu tư nhiều vào trái phiếu kho bạc Mỹ. Nhóm chủ nợ này bao gồm các nước Ecuador, Venezuela, Indonesia, Bahrain, Iran, Iraq, Kuwait, Oman, Qatar, Saudi Arabia, Các tiểu vương quốc Arab thống nhất (UAE), Algeria, Gabon, Libya, và Nigeria.

8. Anh quốc

Tổng số trái phiếu kho bạc Mỹ đang nắm giữ: 321,2 tỷ USD

Tuy hiện là một chủ nợ hàng đầu của Mỹ, nhưng vào tháng 6/2008, Chính phủ Anh chỉ nắm giữ có 55 tỷ USD trái phiếu do Washington phát hành.

7. Các quỹ lương hưu

Tổng số trái phiếu kho bạc Mỹ đang nắm giữ: 513,1 tỷ USD

Các quỹ lương hưu kiểm soát lượng tiền lớn được dành cho mục đích hưu trí của khách hàng nên họ buộc phải chọn những kênh đầu tư có độ an toàn cao như nợ chính phủ Mỹ. Nhóm chủ nợ này bao gồm cả các quỹ lương hưu tư nhân và các quỹ lương hưu thuộc chính quyền địa phương.

6. Các chính quyền bang và địa phương ở Mỹ

Tổng số trái phiếu kho bạc Mỹ đang nắm giữ: 531,3 tỷ USD

Trong 3 năm qua, số nợ Mỹ do nhóm chủ nợ này nắm giữ khá ổn định trong khoảng từ 531,3 - 550,5 tỷ USD, dù có giảm so với những con số đỉnh cao trước đây.

5. Các quỹ tương hỗ

Tổng số trái phiếu kho bạc Mỹ đang nắm giữ: 663,9 tỷ USD

FED cho biết, các quỹ tương hỗ hiện là chủ nợ lớn thứ 5 của Mỹ, dù từ tháng 12/2008 tới tháng 12/2009, nhóm chủ nợ này đã giảm 105 tỷ USD trong lượng trái phiếu kho bạc Mỹ nắm giữ.

4. Nhật Bản
Tổng số trái phiếu kho bạc Mỹ đang nắm giữ: 795,5 tỷ USD

Là đối tác thương mại lớn của Mỹ, Nhật Bản đồng thời cũng nắm giữ một lượng trái phiếu kho bạc Mỹ khổng lồ. Từ trước tới nay, Nhật Bản vẫn luôn nằm trong top những quốc gia chủ nợ lớn nhất của Mỹ, thậm chí có thời điểm vượt cả Trung Quốc về phương diện này.

3. Trung Quốc

Tổng số trái phiếu kho bạc Mỹ đang nắm giữ: 900,2 tỷ USD

Trung Quốc thường xuyên dẫn đầu trong danh sách các quốc gia chủ nợ của Mỹ. Tính tới cuối tháng 4/2010, Mỹ nợ Trung Quốc số tiền lên đến 900,2 tỷ USD, mức cao nhất kể từ tháng 11/2009.

2. Các nhà đầu tư khác

Tổng số trái phiếu kho bạc Mỹ đang nắm giữ: 1.193 tỷ USD

Nhóm nhà đầu tư này gồm nhiều đối tượng như các nhà đầu tư cá nhân, các doanh nghiệp được chính phủ bảo trợ, các công ty môi giới, các quỹ ủy thác của cá nhân tại nhà băng, doanh nghiệp…

1. FED và các cơ quan thuộc Chính phủ Mỹ

Tổng số trái phiếu kho bạc Mỹ đang nắm giữ: 5.259 tỷ USD

Chủ nợ lớn nhất của Mỹ nằm ngay trong biên giới của nước này. Hệ thống FED và một số cơ quan trong Chính phủ Mỹ hợp thành chủ nợ lớn nhất của Washington. Tuy nhiên, lượng nợ Mỹ nắm giữ của nhóm này trên thực tế đã giảm so với mức đỉnh cao hồi tháng 12/2009.

(Theo Vneconomy)

Trung Quốc vẫn là chủ nợ lớn nhất của Mỹ

Mỹ đang nợ Trung Quốc hơn 900 tỷ USD - Ảnh: AP.

Tính tới cuối tháng 4/2010, Mỹ nợ Trung Quốc lên đến 900,2 tỷ USD, mức cao nhất kể từ tháng 11/2009
Theo số liệu do Bộ Tài chính Mỹ công bố ngày 15/6, tính tới cuối tháng 4 vừa qua, tổng số tiền Mỹ đang nợ Trung Quốc đã lên đến 900,2 tỷ USD, mức cao nhất kể từ tháng 11/2009.

Hãng tin AP cho biết, đây là tháng thứ hai liên tiếp, Trung Quốc tăng nắm giữ trái phiếu Chính phủ Mỹ sau 6 tháng giảm lượng mua. Với số liệu được công bố trên, Trung Quốc tiếp tục là chủ nợ lớn nhất của Mỹ.

Theo số liệu của Bộ Tài chính Mỹ, Trung Quốc vẫn là khách hàng trung thành đối với trái phiếu Chính phủ Mỹ, với lượng mua trung bình hàng tháng là 10,3 tỷ USD trong năm 2009 và 8,2 tỷ USD trong 4 tháng đầu năm 2010.

Đứng thứ hai trong danh sách chủ nợ lớn của Mỹ tiếp tục là Nhật Bản. Trong tháng 4, Nhật Bản cũng tăng mua trái phiếu Mỹ, tăng 13,5% so với tháng 3. Hiện Mỹ đang nợ Nhật Bản 795,5 tỷ USD. Vị trí thứ 3 thuộc về nước Anh, với 239,3 tỷ USD, giảm từ mức 279 tỷ USD trong tháng 3.

Tổng lượng nợ nước ngoài của Mỹ trong tháng 4 tăng 72,8 tỷ USD so với tháng trước, lên tới 3.960 tỷ USD. Các chuyên gia phân tích cho rằng, nguyên nhân là bởi khủng hoảng nợ ở Hy Lạp và châu Âu đã khiến các dòng vốn chảy sang những lĩnh vực đầu tư an toàn hơn.

Ngoài ra, theo ông Gregory Daco, chuyên gia kinh tế thuộc IHS Global Insight, nhu cầu trái phiếu Mỹ tăng lên còn là nhờ thực tế triển vọng lợi nhuận sáng sủa của nhiều công ty Mỹ và nền kinh tế đầu tàu thế giới được dự báo sẽ tăng trưởng mạnh hơn châu Âu trong năm nay.

"Niềm tin của các nhà đầu tư nước ngoài đối với sự hồi phục của nền kinh tế Mỹ đã được khẳng định qua việc tăng lượng mua trái phiếu của 3 nước sở hữu trái phiếu Chính phủ Mỹ lớn nhất, bao gồm Trung Quốc, Nhật Bản và Anh”, ông Daco nói.

(Theo Vneconomy)

Thắc mắc chuyện đánh thuế sân golf

Đa phần các câu hỏi dành cho lãnh đạo Bộ Tài chính trong buổi đối thoại với doanh nghiệp ngày 16/6 liên quan đến các thủ tục và chính sách thuế.

Mục tiêu của cuộc đối thoại này là rà soát lại toàn bộ các thủ tục hành chính và quy định thuế hiện hành, phát hiện những điểm không phù hợp với cuộc sống, gây phiền hà tốn kém cho doanh nghiệp. Bộ Tài chính, cơ quan thuế và hải quan cũng muốn lắng nghe ý kiến nhận xét của doanh nghiệp về cung cách làm việc của cán bộ, từ đó có cơ sở kiến nghị với các cấp có thẩm quyền loại bỏ những thủ tục không cần thiết.

Thế nhưng, chiếm một nửa thời gian của buổi đối thoại là việc đại diện Bộ Tài chính thông báo việc cắt giảm thủ tục hành chính, rà soát văn bản liên quan đến thuế và các quy định mới ban hành.

Cho đến gần trưa, buổi đối thoại mới mới sôi động hơn chút ít khi một số doanh nghiệp đứng lên trao đổi trực tiếp với lãnh đạo Bộ Tài chính. Phó chủ tịch Hiệp hội các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài, ông Nguyễn Văn Toàn cho hay, rất nhiều doanh nghiệp có các dự án đầu tư vào sân golf đang thắc mắc về việc đánh thuế tiêu thụ đặc biệt với dịch vụ xe đẩy tại sân golf.

Xe golf và thẻ ra vào sân golf... nằm trong diện bị đánh thuế tiêu thụ đặc biệt. Ảnh: H.H.

Việc đánh thuế như vậy khiến doanh thu của các doanh nghiệp giảm sút đáng kể. Trong khi đó, dịch vụ xe đẩy không thuộc nhóm bắt buộc mà phụ thuộc vào người chơi golf ai muốn thuê thì thuê, do vậy ông Toàn cho rằng không nên đánh thuế.

Giải đáp thắc mắc này, Thứ trưởng Bộ Tài chính Đỗ Hoàng Anh Tuấn nói, golf vốn là môn thể thao quý tộc và xa xỉ, quan điểm của Bộ Tài chính là không khuyến khích. Do vậy, việc đánh thuế tiêu thụ đặc biệt đối với dịch vụ này là hoàn toàn phù hợp vì bản thân doanh thu của doanh nghiệp đã bao gồm cả dịch vụ cho thuê xe đẩy.

"Chúng tôi đã tham khảo kinh nghiệm rất nhiều nước trên thế giới rồi. Tôi khẳng định việc đánh thuế tiêu thụ đặc biệt với loại hình dịch vụ này là hoàn toàn phù hợp", ông Tuấn nói.

Đại diện của Bộ Tài chính vừa dứt lời thì đại diện Công ty thương mại và đầu tư phát triển miền núi Thanh Hoá thắc mắc, doanh nghiệp này thu mua hàng nông sản trực tiếp của nông dân để về sản xuất và chế biến nên không có hóa đơn và không được khấu trừ thuế đầu vào. Tuy nhiên, đầu ra, doanh nghiệp này lại phải chịu thuế 5%. "Như vậy có phải doanh nghiệp chúng tôi đang phải thực hiện 2 luật - thuế giá trị gia tăng và doanh thu?", vị đại diện này thắc mắc.

"Nếu các hoạt động thu mua hàng hóa cho nông dân, tạo công ăn việc làm cho người lao động không được ưu đãi thì sẽ rất khó khuyến khích doanh nghiệp đầu tư về các vùng nông thôn, vùng núi, vùng sâu, vùng xa ", bà này nói thêm.

Liên quan đến trường hợp thuế chồng thuế mà doanh nghiệp đề cập, ông Đỗ Hoàng Anh Tuấn cho rằng bản thân các sản phẩm nông sản đã được miễn trừ và không thu thuế. Nhà nước thu 5% đối với đầu ra của sản phẩm vì doanh nghiệp không có căn cứ, chứng từ chứng minh thuộc diện được ưu đãi thuế. Do đó, tùy từng trường hợp cụ thể mà Bộ Tài chính sẽ tiếp tục giải đáp.

Tại buổi đối thoại, một số doanh nghiệp cũng thắc mắc các vấn đề liên quan đến thủ tục quyết toán thuế thu nhập cá nhân, hoàn thuế VAT, các chính sách ưu đãi thuế với khu công nghiệp, khu chế xuất...

Trước đó, để chuẩn bị cho buổi đối thoại, Bộ Tài chính đã tổ chức lấy ý kiến doanh nghiệp, tổng hợp được trên 100 câu hỏi và trả lời được đóng thành sách gửi tới từng đại biểu.

Trong buổi đối thoại này, mục tiêu lắng nghe ý kiến của doanh nghiệp về cung cách làm việc của Bộ Tài chính, cơ quan thuế và hải quan không đạt được hiệu quả mong muốn bởi phần lớn các câu hỏi chỉ là các thắc mắc về văn bản pháp luật.


(Theo Vnexpress)

Chủ Nhật, 13 tháng 6, 2010

Cái khó của đô thị là không nhìn thấy căn bệnh dàn trải?

Bàn tiếp về Quy hoạch Thủ đô Hà Nội, KTS Hà Thủy cho rằng: "Người ta thường nhìn thấy những mặt trái của đô thị khi gặp phải những vấn nạn hiện nay của đô thị Việt Nam đã dẫn đến tư duy khôi hài là quy hoạch dường như chỉ có một mục tiêu là giãn dân và chống tắc đường. Người ta chưa một lần nhận thấy căn bệnh dàn trải chính là nguyên nhân gây ra các khó khăn của đô thị hiện nay".

Không nhận diện được Tài nguyên Di sản đặc trưng của thủ đô. Không đề xuất được mô hình phát triển. Với các ý tưởng mơ hồ, tự phát. Cùng với việc đề cao quá mức các đô thị quần cư, Quy hoạch Hà Nội đã biến thành một dự án bất động sản khổng lồ.

Tài nguyên di sản - Gánh nặng hình thức hay Động lực phát triển?

Trên thế giới hiện nay còn khoảng 29 thủ đô các quốc gia và vùng lãnh thổ có lịch sử 1000 năm tuổi; Bao gồm: Tunis (Tuy ni di); Tashkent (Uzbekistan); Jerusalem (Israel); Baghdad (Iraq); Algiers (Algieria); Vienna (Áo); Vientiane (Lào); Rome (Italia); Prague (CH Séc); Paris (Pháp); Nicosia (Đảo Síp); Lisbon (Bồ Đào Nha); Kiev (U-crai-na); Dublin (Ai-len); Bắc kinh (Trung Quốc); Budapest (Hung-ga-ri); Brussels (Bỉ); Bratislava (Slo-va-kia); Athens (Hy lạp); Yangon (Mi-an-ma); Cairo (Ai Cập); Beirut (Li băng); Damascus (Si-ria); Delhi (Ấn Độ); London (Anh); Sofia (Bun-ga-ri); Madrid (Tây Ban Nha); Seoul (Hàn Quốc); Hà Nội (Việt Nam).

Trong bảng xếp hạng 100 các thành phố có GDP cao nhất thế giới có 49 thủ đô; 15/ 29 thành phố 1000 năm tuổi thuộc nhóm này; 3 thành phố thuộc top 10; 10 thành phố thuộc top 50.

Sự thành công của các thành phố này là đáng tự hào. Điều này nói lên rằng Tài nguyên di sản (đô thị và nông thôn) đóng vai trò rất quan trọng.

Kinh tế di sản mang lại hiệu quả cao, vốn đầu tư thấp, song khó làm. Cũng như các ngành kinh tế giá trị gia tăng khác, rất cần nguồn nhân lực trình độ cao và sự đồng bộ của hệ thống. Tại Anh, hàng năm ngành kinh tế này cho một khoản thu nhập trên dưới 60 tỷ bảng (cao hơn GDP Việt Nam).

Tuy nhiên, phần đông (đặc biệt những nước chậm phát triển hoặc mới phát triển như nước ta) lại coi như một gánh nặng, không mang lại lợi ích cho đời sống hiện tại. Nhận thức này không chỉ nằm trong nhận thức trong xã hội mà còn ở trong suy nghĩ của những người có thẩm quyền; ở ngay chính những người làm quy hoạch. Vì vậy, việc bảo tồn di sản phần lớn chỉ mang tính hình thức (làm cho có).

Vậy Tài nguyên di sản của Hà Nội là gì? Câu hỏi tưởng chừng rất dễ, song trả lời cho đầy đủ thật không đơn giản.

Lý do, nhận diện di sản là một quá trình, cái hôm nay ta đang coi rẻ, ngày mai đã trở thành vốn quý. Ai cũng có thể nói về di sản kiến trúc, văn hóa, lịch sử, khảo cổ, nghệ thuật, di sản thiên nhiên (đã được xếp hạng) theo số đông, cái đã được thừa nhận. Song ứng xử với di sản thường không nhất quán.

Hơn thế, những cái có giá trị thường khó nắm bắt. Bảo tồn những cái sờ nắm được cũng đã khó, bảo tồn những di sản không nhìn thấy được khó hơn nhiều. Ở đây, chúng tôi muốn nói đến các vấn đề Tài nguyên di sản cốt lõi của thủ đô Hà Nội (xin không nhắc lại những di sản phổ thông mà ai cũng biết) mà quy hoạch chung thủ đô Hà Nội không thể bỏ qua. Ngược lại, phải kế thừa và coi như Nền tảng, động lực phát triển trong nhiều thế hệ.

Vậy, Tài nguyên di sản Thăng Long - Hà Nội đặc trưng là gì?

Trước khi trả lời câu hỏi này cần trả lời được những câu hỏi khác:

Tại sao trong lịch sử dựng nước, giữ nước, triều đại nào chọn Thăng Long Hà Nội (Ba Đình) làm thủ đô đều thịnh trị lâu bền?

Tại sao các bậc quân vương muốn cai trị đất nước bền vững đều phải tìm cách thuyết phục "sĩ phu Bắc hà" ủng hộ (mà sĩ phu Bắc hà lại chính là nhân tài quốc gia tụ hội về Thăng Long)?

Tại sao khi đất nước lâm nguy, chiến tranh kéo dài, lòng dân (cả nước) luôn hướng về Hà Nội?

Câu trả lời: Thăng Long - Hà Nội có di sản không phải thủ đô nào cũng có được đó là Di sản Niềm tin. Mất Hà Nội tức là mất nước, rời bỏ Hà Nội tức mất Niềm tin, hy vọng.

Tại sao trong 100 thành phố có GDP lớn nhất thế giới có tới 49 thành phố là thủ đô. Cả 3 trung tâm kinh tế, tài chính thế giới đều đang là thủ đô (Tokyo >600 năm), (London >1000 năm) hoặc đã từng là thủ đô (New York >200 năm). Các trung tâm tài chính đều đặt trong khu vực trung tâm, các khu vực đô thị lâu đời?

Tại sao các thành phố ban đầu chỉ với chức năng chính trị và văn hóa sau đó lại thành công về kinh tế như Washinton, D.C - hạng 11/100; Brasillia - hạng 56/100?

Tại sao các thành phố đông đúc, đắt đỏ như Tokyo, New York, London, Seoul, Delhi mà dân số vẫn không ngừng tăng. Các quốc gia này lại coi sự đô hội này như động lực phát triển?

Tai sao các thành phố thủ đô bao giờ cũng là trung tâm chính trị (chính phủ, nhà nước), văn hóa, lịch sử?

Câu trả lời: Đây là Di sản Chức năng - di sản đặc trưng của thủ đô; rời bỏ các chức năng này, thủ đô chỉ còn tồn tại trên danh nghĩa; không thể tách rời kinh tế, chính trị và văn hóa, các chức năng này luôn hàm chứa trở thành nhất thể thủ đô, chỉ khác ở thứ tự ưu tiên mà thôi.

Tai sao văn hóa, đời sống Thăng Long - Hà Nội luôn được coi là chuẩn mực về thanh lịch, văn minh, văn hiến, đều được các địa phương và khách quốc tế lấy làm cơ sở văn hóa Việt Nam.

Tại sao giá đất, giá nhà Hà Nội, của ngon vật lạ từ các địa phương mang về gắn nhãn Hà Nội luôn đắt hơn nơi khác?

Câu trả lời: không chỉ là di sản tên gọi (hay địa danh), đây (tạm gọi tên) là Di sản Đẳng cấp (thủ đô) của hệ thống; tất cả các thủ đô (lâu dời) đều có dạng di sản này!

Hà Nội đã mở rộng, và thu hẹp nhiều lần, văn hóa mỗi vùng đất không thể sau một quyết định hành chính để trở thành vùng văn hóa khác.

Trong khi Hà Nội cũng giống như các thành phố thủ đô khác trên thế giới với đặc trưng mở, giao lưu, dung nạp thì Hà Tây (điển hình là vùng Ba Vì, Sơn Tây) văn hóa hoàn khác biệt.

Với những đặc trưng văn hóa vùng, Xứ Đoài luôn khép kín. Di sản đặc trưng là các công xã nông thôn có đời sống hướng nội, coi trọng truyền thống hơn sự thay đổi. Các hoạt động tâm linh được coi trọng hơn đời sống thực tế. Vì vậy, mới còn tồn tại Làng cổ Đường Lâm, Chùa Mía, Chùa Thầy, Chùa Tây phương, Đền Và, Đình Chu Quyến. Gần sát Hà Nội, người Sơn Tây vẫn duy trì phương ngữ "nói không dấu". Song, không mặc cảm.

Chúng tôi tin, người Hà Tây tự hào là người thủ đô chứ không tự hào là người Hà Nội.

Cũng giống như các vùng nông thôn khác trong tam giác đồng bằng Bắc bộ. Chính sự kiêu hãnh này đã giúp cho Việt Nam bảo vệ được bản sắc văn hóa của dân tộc dù đã bao lần bị ngoại xâm đô hộ.

Vậy di sản này gọi tên là gì?

Câu trả lời: đây là Di sản Công xã nông thôn Việt Nam; trước kia Hà Nội đã từng có di sản này tại các làng nghề ven đô (Ngọc Hà, Đại Yên, Vạn Phúc, Nhật Tân, Thọ Xương, Ngũ Xã v.v). Rất tiếc, giờ không còn nữa; Di sản này luôn gắn với đất lúa và vùng canh tác nông nghiệp.

Với việc đề xuất dời đô lên Ba Vì vào năm 2030 ~ 2050 đồ án đã đánh mất đi Di sản Niềm tin (rất dễ hiểu vì sao ý tưởng này không nhận được sự ủng hộ trong công luận và nhân dân).

Việc kết nối, phân bổ các đô thị dàn trải đã làm lẫn, mất đi sự khác biệt về không gian, xóa nhòa địa danh, văn hóa vùng và cực điểm là ý tưởng đề xuất trục Thăng Long đã cùng lúc tạo nên hiệu ứng kép:

Một mặt, ý tưởng quy hoạch này làm mất đi các tính chất đặc thù của các vùng đất, làm mất đi di sản được gọi Di sản Đẳng cấp (thủ đô) của hệ thống. Mà với di sản này phải hiếm mới quý (Paris, trải qua rất nhiều thế kỷ không mở rộng không gian đô thị thủ đô mới tạo ra giá trị gia tăng đáng kinh ngạc như đã nêu). "Tương phản tương sinh, tương đồng tương khắc" những gì khác nhau sẽ tôn lên, những gì giống nhau sẽ triệt tiêu lẫn nhau.

Mặt khác, với trục Thăng Long (khổng lồ) là 1 đề xuất theo phong cách Duy lý, thịnh hành vào thế kỷ 17 - 18 (Rene Descartes 1596-1690), không phù hợp với văn hóa Việt Nam vốn chuộng sự tinh tế và khiêm nhường; cùng lúc ứng sử thô bạo với di sản đô thị, nông thôn cả văn hóa Tràng An lẫn Xứ Đoài chứ không phải kết nối như ai đó đã nói: "Trục này vừa để phát triển kinh tế - xã hội, vừa để phát triển giao thông, vừa kết nối văn hóa giữa các vùng xứ Đoài với Thăng Long" ; nguồn: http://vietnamnet.vn/chinhtri/201004/Chua-quyet-dia-diem-xay-Trung-tam-hanh-chinh-quoc-gia-905539/Thực chất đây chỉ là ngụy biện, vì xưa nay không ai có thể kết nối văn hóa bằng một trục đường thẳng cứng và thô bạo như vậy cả, trên toàn thế giới.

Trục đường này chiếm đất lúa tới (350m*30km) 1.050ha không thể nói như một cách để bảo vệ Di sản (bối cảnh) Công xã nông thôn Việt Nam được nữa.

Ngoài ra, cũng cần phải nói thêm, bảo tồn di sản cần nhất sự đồng bộ, vì vậy, sẽ là khiếm khuyết nếu không nhắc tới việc khôi phục các dòng chảy vốn được coi là đặc trưng của Hà Nội: cần kết nối Sông Tô lịch với Hồ Tây (không nên để thế hệ sau phải làm như Hàn Quốc khôi phục con suối Cheonggyecheon ở Seoul);

Với việc không có ý tưởng phát triển khu vực nội đô (tương tự như các thành phố giàu truyền thống khác đã phân tích ở trên) thành các trung tâm kinh tế (tài chính), thương mại, đồ án đã đánh mất đi Di sản Chức năng vốn đã, đang và sẽ là các động lực, năng lực cạnh tranh có chiều sâu cho tất cả các trung tâm kinh tế thế giới và biến mục tiêu trở thành trung tâm kinh tế, du lịch Châu Á - Thái Bình Dương của thủ đô Hà Nội trở thành vô vọng.

Không kế thừa lợi thế có sẵn, thay mới đổi cũ không có lý do, đây chính là bẫy thu nhập trung bình của các nước Đông Nam Á mà qua cách nghĩ, chúng ta đang sa vào, với đồ án này.

Bài toán dễ là đặt ra các vấn đề bảo vệ di sản (kiến trúc, di sản văn hóa, lịch sử, vật thể và phi vật thể bằng lời) chỉ mang tính thủ tục. Đề xuất kế hoạch làm mới các Trung tâm Chính trị, Trung tâm Tài chính - thương mại quốc tế, làm nghèo đi Trung tâm Văn hóa, lịch sử, tập trung quy hoạch các đô thị quần cư như các nội dung đã có trong đồ án. Điều này cũng có nghĩa khả năng kế thừa di sản đô thị chỉ là tối thiểu và hình thức.

Bài toán khó là trong khuôn khổ quy hoạch chung, cần có cái nhìn chiến lược ở quy mô bảo tồn cấu trúc Tài nguyên di sản (đô thị và nông thôn). Trong đó Di sản Niềm tin, Di sản Chức năng, Di sản Đẳng cấp (thủ đô) của hệ thống, Di sản Công xã nông thôn sẽ trở thành nền tảng cho việc bảo tồn và phát huy giá trị các di sản khác.

Bài toán khó là dành quỹ đất xung quanh Hồ Tây, Ba Đình cho các chức năng chính của thủ đô: Trung tâm Chính trị - Văn hóa - Lịch sử quốc gia; Khu vực Hồ Gươm, Phố cổ cho các chức năng Trung tâm Hành chính - Văn hóa - Lịch sử thành phố Hà Nội; Khu vực phố cũ cho các chức năng Trung tâm Tài chính - thương mại quốc tế.

Bài toán khó là để Tài nguyên Di sản trở thành Động lực phát triển thực sự. Chỉ có như vậy mới khai thác được ưu thế cạnh tranh, biến mục tiêu trở thành trung tâm kinh tế, du lịch Châu Á - Thái Bình Dương của thủ đô Hà Nội trở thành hiện thực.

Mô hình phát triển của đô thị thủ đô - Mơ hồ, tự phát hay Chủ kiến, chủ động?

Trên thế giới, các thành phố thủ đô không có một mô hình duy nhất để phát triển. Tuy nhiên, sự thành công lại có chung một đặc điểm: cần phải kiên định với các mục tiêu, tầm nhìn đã đề xuất. Điều khác biệt ở chỗ là phải hiểu biết thành phố muốn gì, tới đâu; cơ sở thực tiễn cho mục tiêu là gì, dung lượng rủi ro và khả năng hiện thực hóa theo giới hạn thời gian.

Một thành phố, nếu để tự nhiên sẽ không cần mô hình phát triển định trước. Sự phát triển của thành phố sẽ là tốt khi chuyển dịch chậm rãi. Tại các thành phố này, tính ngẫu nhiên luôn chiếm ưu thế; đặc biệt đối với các thành phố có bề dày lịch sử. Việc định ra một mô hình phát triển cụ thể, thậm chí phản tác dụng.

Cũng có không ít các thành phố lại cho thấy điều ngược lại: cùng với sự hình thành 1 cách mau lẹ, các thành phố mới nổi rất cần có những định hướng từ trước thông qua các mô hình phát triển (phải được nghiên cứu kỹ lưỡng và thấu đáo).

Sự mơ hồ, tự phát, thiếu chủ kiến, chủ động sẽ đẫn đến sự bất công và hỗn loạn.

Trong khi, ở nơi này một số người không có nơi trú ngụ, không mảnh đất cắm dùi; ở nơi kia có những căn biệt thự bỏ không, để đất đai hoang hóa.

Tiếc thay, đây lại là sự thực của Hà Nội; và sự thực sẽ không ngừng ở đây khi mà trong chính bản quy hoạch đang đệ trình. Mô hình phát triển hoàn toàn vắng mặt dẫn dến một loạt các ý tưởng mơ hồ, thiếu luận cứ;

Cơ hội đang dần biến mất, trong khi hiểm họa xã hội lại càng ngày càng rõ nét, nếu thực thi theo ý tưởng của đồ án này. Có những sự tùy tiện, tùy hứng. Trong khi đó, tại các quốc gia phát triển khác, người ta giải quyết rất tốt vấn đề này, rất thành công về đô thị trong cả nghiên cứu quy hoạch, thực thi, quản lý phát triển.

Thành phố thủ đô có thuận lợi hơn các thành phố khác vì được thừa hưởng vị thế quốc gia. Ngược lại, hình ảnh, sức sống của thành phố này cũng ảnh hưởng trở lại tới vị thế của đất nước.

Phương pháp quy hoạch theo mục tiêu có thể xuất phát từ những kinh nghiệm thực tiễn của các quốc gia khác. Chúng ta tiếp tục nghiên cứu 18 quốc gia thuộc nhóm các nền kinh tế lớn (thuộc nhóm G20).

Các số liệu, Biểu đồ (1) và Biểu đồ (2) cho thấy điều gì?

(1) 15/29 thành phố thủ đô 1000 năm tuổi nằm trong top100 các thành phố có GDP lớn nhất Hành tinh. Điều này khẳng định cơ hội phát triển đối với các thủ đô giàu truyền thống rất thuận lợi. Kinh tế di sản là một ưu thế cốt lõi của các thành phố này.

(2) 16/18 nước nhóm kinh tế lớn có thủ đô nằm trong top 100 thành phố là trung tâm kinh tế thế giới. Điều này thể hiện sự hưng thịnh của một quốc gia luôn gắn kết với sự phát triển, đẳng cấp của thành phố thủ đô.

(3) 4/18 thành phố thủ đô có mô hình chuyên biệt; trong đó Washington, D.C (hạng 11/100) và Brasilia (hạng 56/100) đã thành công khi chuyển đổi từ một đô thị hành chính sang mô hình phức hợp (văn hóa, lịch sử và du lịch) xuất phát từ thành công của quy hoạch đô thị, kiến trúc và hệ thống quản trị tốt. Ottawa và Canberra khả năng chuyển đổi mô hình diễn ra chậm hơn, vì vậy, sự thành công về kinh tế chưa đạt tới đẳng cấp của hai thành phố nói trên. Mô hình đô thị quyền lực nhà nước kết hợp văn hóa - lịch sử cũng có khả năng mang lại thịnh vượng cho quốc gia bằng phát triển các ngành kinh tế có giá trị gia tăng cao.

(4) 14/18 thành phố có mô hình phức hợp, dựa trên nền tảng đô thị lịch sử, địa điểm truyền thống; Duy trì mật độ dân cư đô thị cao, có quy mô dân số thuộc nhóm lớn. Hiện nay, không còn thành phố nào (trong nhóm này) phát triển dựa vào hạt nhân công nghiệp. Các đô thị thủ đô (và các thành phố đã từng là thủ đô) đều phát triển theo mô hình lấy độ lớn thị trường thành phố, du lịch, dịch vụ và đặc biệt ngành tài chính làm hạt nhân phát triển.

Tiếp theo, trong 61 thành phố đông dân nhất thế giới; có 20 thành phố: Karachi, Pakistan (3/61); Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ (5/61); Kinshasa, Congo (17/61); Lima, Peru (18/61); Bogotá, Colombia (20/61); Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam (21/61); Bangkok, Thái lan (22/61); Lahore, Colombia (26/61); Thiên Tân, Trung Quốc (29/61); Santiago, Chile (33/61); Trùng Khánh, Trung Quốc (35/61); Alexandria, Ai Cập (40/61); Shenyang, Trung Quốc (41/61); Ankara, Thổ Nhĩ Kỳ (45/61); Johannesburg, Nam Phi (46/61); Abidjan, Côte d'Ivoire (48/61); Cape Town, Nam Phi (51/61); Durban, Nam Phi (52/61); Bình Nhưỡng, Bắc Triều Tiên (55/51); Jeddah, Ả Rập Saudi (61/61); Trong đó: Thành phố có diện tích đô thị lớn nhất (Kinshasa): 9.965km2; nhỏ nhất (Jeddah): 1.230; Thành phố có số dân đông nhất (Karachi): 12.991.000 (hạng 3); ít nhất (Jeddah): 3.012.000 (hạng 61).

Các thành phố này đều có chung đặc điểm:

(1) Duy trì mật độ dân cư ở mức thấp <6.500/km2;

(2) 9/20 là thành phố thủ đô; không thành phố thủ đô nào (thuộc nhóm này) nằm trong top 50/100 của Danh mục các thành phố thủ đô là trung tâm kinh tế (GDP năm 2008);

(3) Không có thành phố nào thuộc nhóm thủ đô 1000 năm tuổi;

Như vậy, mật độ thấp và quy mô rộng lớn không phải là điều kiện cốt lõi cho sự thành công và trình độ phát triển, sức hấp dẫn của đô thị thủ đô. Ngược lại, sự mở rộng thái quá sẽ làm suy giảm các nguồn lực mà các quốc gia nghèo thường mắc phải.

Mô hình thành phố phát triển theo chiều rộng, không tạo ra việc làm tại chỗ và có cấu trúc càng ngày mở rộng sẽ là nguyên nhân chính gây tắc nghẽn giao thông, ô nhiễm môi trường (Bangkok và Thành phố Hồ Chí Minh là ví dụ).

Dễ dãi trong quản lý đất đai dẫn đến không gian đô thị sẽ không ngừng giãn ra. Điều này, đối với xã hội giống như cho uống thuốc độc - càng uống càng khát!

Khó khăn trong quản lý đất đai sẽ tạo ra những thách thức, kích thích trí sáng tạo của xã hội. Đây mới là cơ hội giúp chúng ta thoát khỏi lời nguyền tài nguyên.

Vậy mô hình phát triển của Hà Nội sẽ như thế nào?

Trước hết, phải khẳng định không có mô hình lý tưởng hay chuyên biệt (bền vững) như một số người nghĩ; Bởi khi thành công, các đô thị này đều có khuynh hướng phức hợp hóa chức năng. Hiệu quả sử dụng tài nguyên của hai thành phố: Washington D.C. với diện tích 177km2; GDP 375 tỷ USD; xếp hạng 11/100. Hiệu suất GDP: 2,119 tỷ USD/km2 và Brasilia GDP 110 tỷ USD, xếp hạng 56/100. Cũng phải nói thêm Washington D.C. có lợi thế không thể so sánh do vị thế quốc gia của Hoa Kỳ. Brasilia có lợi thế là thủ đô của một nước đông dân thứ 5 thế giới và thành phố đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới vào năm 1987 do thành công của sáng tạo quy hoạch và kiến trúc; Như vậy, hai thành phố này từ những đô thị chuyên biệt (hành chính - quyền lực nhà nước) đã trở thành những đô thị phức hợp bao gồm kinh tế du lịch và dịch vụ.

Trong Danh mục các thành phố là trung tâm kinh tế (GDP năm 2008), Cùng với Thành phố New York và London, Tokyo có nền kinh tế đô thị lớn nhất trên thế giới; cả 3 thành phố này đều đang là thủ đô (hoặc đã từng là thủ đô); 6 thành phố thủ đô nằm trong top10; 10/ top 20; 23/ top50; 45/ top 100. Các thành phố này đều nằm trong số những thành phố có số dân đông và mật độ dân dư đô thị cao nhất.

Chúng tôi xin nhắc lại xét về khía cạnh kinh tế, đô thị thủ đô luôn chiếm được sự thuận lợi tự nhiên về thị trường cũng như đẳng cấp (phân khúc trên) của hàng hóa.

Không phải ngẫu nhiên mà thành công!

Mô hình phát triển đô thị phải xác định được rõ các hợp phần: phát triển nguồn lực (tài nguyên, tài chính, nhân lực, thị trường) phát triển chức năng; phát triển kinh tế; phát triển dân cư; phát triển hạ tầng xã hội; phát triển tiện nghi đô thị; phát triển không gian; phát triển hạ tầng kỹ thuật, làm tiền đề xác định giải pháp đô thị hóa; xác định quy mô, cấu trúc đô thị phù hợp với mô hình phát triển đô thị.

Phải xác định được hạt nhân phát triển có khả năng cạnh tranh thực sự về lượng và chất với các đô thị khác trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương; Trong đó nguồn lực con người với dân số đông, trẻ, tập trung sẽ trở thành sức mạnh chính (giai đoạn đầu) của đô thị; (Các nước Châu Á vốn chiếm ưu thế về thị trường đông đúc - đây cũng là bảo đảm cần thiết cho sự thịnh vượng của các thành phố như Tokyo, Thượng Hải, Seoul, Delhi, Mumbai);

Nghiên cứu, đề xuất và lựa chọn mô hình phát triển sẽ là sản phẩm có giá trị lớn nhất về mặt trí tuệ; thiếu nội dung này đồ án quy hoạch sẽ trở nên tầm thường; Tiếc thay, đây lại là sự thật;

Không đề xuất được mô hình phát triển; Với các ý tưởng mơ hồ, tự phát; Cùng với việc đề cao quá mức các đô thị quần cư, Quy hoạch Hà Nội đã biến thành một dự án bất động sản khổng lồ;

Đồ án mới chỉ đề xuất mô hình phát triển không gian; và dùng công cụ này giải quyết tất cả; Đây là một sai lầm có tính hệ thống, một bài toán ngược!

Một đồ án thực hiện một hệ thống các đô thị của một thủ đô ngàn năm tuổi, diện tích >900km2; dân số tới >9 triệu người mà không có mô hình phát triển làm cơ sở tư duy và kiểm soát hệ thống đã khiến chúng tôi kinh ngạc;

Xét trên phương diện này; đồ án Quy hoạch Hà Nội cũng giống như các đô thị của Việt Nam đã hình thành theo cùng một cách; Người ta vẫn theo tư duy định trước những đơn vị ở (dù là một thành phố cũng như đơn vị ở phóng to); Tất cả các nội dung của thành phố đều đã đóng gói sẵn sàng, được sử dụng đi, sử dụng lại cho nhiều thành phố khác nhau;

Trong thực tiễn thế giới (ưu việt), sự phát triển thành phố thường theo hướng ngược lại: Với một quỹ đất định trước cần suy nghĩ sao cho việc năng cao hiệu suất sử dụng đất ngày càng được cải thiện; Mô hình đô thị phải giải quyết được sự giảm thiểu các chuyển động theo phương ngang vốn là biểu hiện của tiện nghi đô thị thấp kém và là nguyên nhân của việc tắc đường hiện nay;

Một đô thị tốt cần phải giải quyết các chức năng như một động lực phát triển; Đồ án quy hoạch chung Hà Nội đề xuất một kế hoạch giãn dân ra khỏi khu vực nội đô (400.000); Kế hoạch này thể hiện một tư duy sai lầm đã có trước; Bởi, bất chấp mọi nỗ lực chống lại sức hút đô thị sự gia tăng dân số trong các đô thị dù có muốn hay không (việc này) cũng không thay đổi được điều gì;

Hơn thế, về mặt nhận thức, tồn tại suy nghĩ này là không thể hiểu được đối với đô thị học hiện đại; Bởi nó trái ngược hoàn toàn với mục tiêu phát triển; Cách nghĩ này có thể biến những đô thi phồn hoa trở thành hoang phế; Chính cách nghĩ này đã biến Thành phố Hồ Chí Minh đi từ Hòn Ngọc Viễn Đông tới đô thị của ngập lụt, ô nhiễm, rác thải, khói bụi và tắc đường;

Đô thị có rất nhiều tham số tác động; việc đề xuất các mô hình phát triển nhằm giúp cho các mục tiêu tiệm cận dần với thực tiễn; đô thị luôn gắn liền với một điều kiện định trước: đó là một quỹ đất giới hạn có nhiệm vụ phải đáp ứng sự biến động không ngừng của dân số đô thị; nó phải gắn kết, giải quyết xung đột giữa mong mong muốn đáp ứng thật nhiều, ngày càng nhiều hơn các nhu cầu và sự không ngừng gia tăng các phát kiến công nghệ; một mặt công nghệ giúp cho nâng cao hiệu suất đô thị; mặt khác, sự lệ thuộc vào các kế hoạch định sẵn sẽ làm cho đô thị trở nên kém linh hoạt;

Khả năng thích ứng với sự biến động của xã hội sẽ xác định năng lực dung nạp hay khước từ của đô thị; Đây chính là đẳng cấp!

Giải pháp tốt là phải đưa ra những mô hình phát triển tối ưu so với điều kiện hình thành của nó; Tức thay vì tìm mọi cách để giảm thiểu sự gia tăng cơ học làn sóng di cư vào đô thị; cần chủ động hơn trong việc điều tiết theo nguyên tắc thị trường và nâng cao năng lực dung nạp của đô thị kèm theo giá phải trả của tiện nghi; Giá cả thị trường mới là nhân tố điều tiết đô thị chứ không phải giải pháp hành chính;

Người ta thường nhìn thấy những mặt trái của đô thị khi gặp phải những vấn nạn hiện nay của đô thị Việt Nam đã dẫn đến tư duy khôi hài là quy hoạch dường như chỉ có một mục tiêu là giãn dân và chống tắc đường; Người ta chưa một lần nhận thấy căn bệnh tư duy quy hoạch dàn trải mới chính là nguyên nhân gây ra các khó khăn của đô thị hiện nay;

Mô hình đô thị đa trung tâm cũng đã bị hiểu sai nghiêm trọng, khi người ta đề xuất có tới 3 trung tâm Chính trị - Hành chính quốc gia (cùng lúc hay cách 20, 40 năm cũng không gì khác nhau) bởi không phải chức năng nào cũng có thể phân bố rộng khắp; Đa trung tâm chỉ đúng với các dịch vụ thông thường và nguồn việc làm phổ thông;

Dịch vụ công chỉ có ở cấp cơ sở, sẽ không tồn tại dịch vụ công ở cấp Chính phủ, trước kia, bây giờ và sau này cũng như vậy; Càng kéo giãn thì càng xuất hiện dao động giao thông kiểu con lắc; Chính những dao động này khiến cho lưu lượng các phương tiện giao thông luôn luôn quá tải so với dự tính, chính chúng tạo ra sự hỗn loạn giao thông;

Mô hình phát triển không gian chỉ là hệ quả của mô hình phát triển; được khống chế bởi các giới hạn tài nguyên, năng lực, tiện nghi đô thị;

Xin nhắc lại: Sức hút của đô thị nằm ở chỗ đô hội; Sức mạnh của đô thị là tạo ra cỗ máy hoàn hảo (trong đó có khả năng phục hồi sức khỏe cả tinh thần và thể chất), dung nạp được nhiều người song vẫn không tạo ra sự cố về môi trường tự nhiên và xã hội;

Đô thị thủ đô một quốc gia phải là nơi quần tụ của các cư dân của đất nước đó, đến và đi, thành phố không có quyền khước từ;

Đô thị "thủ đô" của thế giới (Roma; New York; London; Paris; Tokyo; Washington D.C và các thành phố khác) cũng như vậy, không bao giờ khước từ nhân loại đến từ bất kỳ phương trời nào; Đây chính là sức mạnh cốt lõi, là động lực phát triển không riêng cho thành phố mà còn cho cả quốc gia và thế giới;

Nhận thức được điều này, khi kế hoạch di chuyển thủ đô của Hàn Quốc được chính phủ đệ trình, Lee Myung-bak (Tổng thống Hàn Quốc - Thị trưởng Seoul tại thời điểm đó, một chính trị gia và là doanh nhân tỷ phú), đã chỉ trích mạnh mẽ kế hoạch này. Ông nói với báo chí rằng di chuyển vốn sẽ làm tổn hại lớn cho nền kinh tế Hàn Quốc và làm suy yếu khả năng cạnh tranh của nó;

Sau này, Tổng thống Lee Myung-bak nói rằng đó là một việc "đáng xấu hổ" - "shameful"; nguồn: http://www.citymayors.com/environment/korea_newcapital.html; http://www.koreatimes.co.kr/www/news/nation/2010/01/116_58821.html);

Đây chính là bài học về Tầm nhìn tri thức!

Ngược lại, trong đồ án Quy hoạch chung Thủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050; Ý tưởng lặp đi lặp lại và có vẻ như chủ đạo là giãn dân, mở rộng tràn lan không gian đô thị; Ấu trĩ thay!

Trong khi đồ án khẳng định mục tiêu của quy hoạch là làm sao nâng cao khả năng cạnh tranh trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương; Câu hỏi được đặt ra ở đây là Hà Nội sẽ cạnh tranh bằng gì?

Bài toán dễ là cứ triển khai đồ án quy hoạch theo thói quen, mơ hồ, tự phát như hiện nay, sử dụng vốn vay và (bán rẻ) quỹ đất ("Mặt mạnh của Hà Nội chính là quỹ đất" nguồn: http://www.vietnamnet.vn/chinhtri/201005/Khong-de-tien-sot-dat-Ha-Noi-vao-tui-tu-nhan-913311/); và không có gì khác về mô hình phát triển?

Về vấn đề này, chúng tôi cũng nghĩ như Tổng thống Lee Myung-bak rằng đó là một việc "đáng xấu hổ" - "shameful";

Bài toán khó là phải khẳng định mô hình phát triển đô thị thủ đô dựa trên 4 trụ cột Chính trị - Văn hóa, lịch sử - Kinh tế - Tự hào dân tộc; Bài toán khó là phải cụ thể hóa được các khái niệm trừu tượng trở thành các giải pháp cụ thể, đảm bảo sự thành công; Các giải pháp này phải trở thành những nguyên lý chỉ đạo, duy trì sự thống nhất, có chủ kiến và chủ động;

Trong các bài toán khó, bài toán Mô hình phát triển là khó nhất; Người bình thường không làm được!

Hà Nội không có thế mạnh quốc gia làm chỗ dựa như Washington D.C; Không tìm được những nhà kiến trúc sư đại tài quy hoạch, thiết kế thành phố để sau 27 năm đã được UNESCO công nhận là Di sản thế giới; Không năng động như New York; Không tinh tế như Tokyo; Không bí ẩn như London; Không mộ đạo như Delhi;

Nhưng Hà Nội lại có sự thiêng liêng của Delhi; Thấm đẫm lịch sử như London; Sâu sắc như Tokyo; Khả năng ứng biến linh hoạt như New York; và đông dân như tất cả!

Cái khó nhất hiện nay của Quy hoạch Hà Nội là làm sao có được những nhà lãnh đạo có tầm nhìn, đức khoan dung như Tổng thống George Washington. Tổng thống Juscelino Kubitschek để có thể chọn được những kiến trúc sư lừng danh thế giới như Pierre Charles L'Enfant; Lucio Costa và Oscar Niemeyer tham gia quy hoạch;.

Quy hoạch Hà Nội cần những nhà tổ chức biết tôn trọng ý nguyện của dân chúng, biết tập hợp những hào kiệt Thăng Long đến từ mọi miền đất nước.

Được như vậy, khó sẽ thành dễ.

Người xưa nói rằng: "Thiên hạ bĩ, quân tử ẩn".

Người xưa cũng nói: "Càn Khôn bĩ rồi lại thái, Nhật Nguyệt hối rồi lại minh".

Ức Trai (Nguyễn Trãi) khẳng định (Như nước Đại Việt ta từ trước): "Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau; Song hào kiệt thời nào cũng có".

Chúng tôi nghe, nhớ, và hy vọng.

Nguồn: Hà Thủy - TuanVietNam