Thứ Hai, 31 tháng 5, 2010

Đến hạn lo soát xét báo cáo bán niên


Nhằm nâng cao chất lượng báo cáo tài chính, bắt đầu từ năm 2010, các DN niêm yết phải thực hiện báo cáo soát xét bán niên (6 tháng đầu năm), bởi một công ty kiểm toán được chấp thuận. Đến thời điểm này, DN đã chuẩn bị như thế nào cho việc soát xét?

CTCP Thủy sản Minh Phú (MPC) là DN không ít lần xin gia hạn nộp báo cáo tài chính kiểm toán. Điều này do MPC có nhiều công ty con, nằm rải rác nhiều nơi. “Với những DN là công ty mẹ có nhiều công ty con, cần cho phép thêm thời gian để thực hiện soát xét. Nếu không, việc chậm nộp sẽ lại diễn ra”, ông Lê Văn Điệp, Phó tổng giám đốc MPC nói. Trong khi đó, các công ty kiểm toán cũng phải thực hiện soát xét nhiều công ty khác, nên thiếu nhân lực để làm.

Theo Thông tư 09/2010/TT-BTC về công bố thông tin trên TTCK, tổ chức niêm yết phải lập và công bố thông tin về báo cáo tài chính bán niên, được soát xét bởi tổ chức kiểm toán được chấp thuận trong thời hạn 45 ngày, kể từ ngày kết thúc quý 2 hàng năm. Trường hợp tổ chức niêm yết là công ty mẹ phải lập báo cáo tài chính hợp nhất thì thời hạn công bố thông tin là 60 ngày kể từ ngày kết thúc quý 2 hàng năm. Báo cáo tài chính bán niên được công bố trên phương tiện công bố thông tin của UBCK, Sở GDCK và trang thông tin điện tử của tổ chức niêm yết và phải lưu trữ ít nhất trong vòng 10 năm tiếp theo tại trụ sở chính của tổ chức để NĐT tham khảo.

Ông Điệp cho biết, hiện Công ty tuân thủ đầy đủ các chuẩn mực kế toán hiện hành, chỉ có điểm khác biệt giữa DN và công ty kiểm toán là việc trích lập giảm giá chứng khoán cho những cổ phiếu trên thị trường OTC không có giao dịch.

Việc soát xét bán niên giúp DN giảm được công việc vào cuối năm, đồng thời chấn chỉnh kịp thời những phát sinh về kế toán, kiểm toán. Để công ty kiểm toán thực hiện soát xét bán niên, phía DN phải chuẩn bị đầy đủ như cho một cuộc kiểm toán.

Theo ông Phạm Văn Toán, Kế toán trưởng CTCP Sông Đà 3 (SD3), việc tuân thủ yêu cầu thực hiện soát xét báo cáo tài chính bán niên theo Thông tư -09/2009/TT-BTC khiến Công ty gặp một số khó khăn. Do SD3 có nhiều đơn vị thành viên nằm rải rác trên cả nước, nên khi thực hiện soát xét phải tập hợp kế toán của mỗi xí nghiệp tại trụ sở chính của Công ty. Trong khi đó, SD3 là đơn vị xây lắp, dòng tiền thường về vào cuối năm, nên việc soát xét bán niên cũng không có nhiều ý nghĩa. Tuy nhiên, do là yêu cầu bắt buộc về công bố thông tin đối với một DN niêm yết, nên SD3 vẫn tuân thủ. Thực hiện soát xét, mức phí dành cho kiểm toán của Công ty sẽ tăng từ 100 triệu đồng lên khoảng 140 triệu đồng.

Đại diện CTCP Khoáng sản Mangan cho biết, mặc dù có quy mô vốn nhỏ (trên 12 tỷ đồng), nhưng ngay từ năm 2009 Công ty đã thực hiện soát xét hàng quý. Do đó, việc đáp ứng yêu cầu soát xét bán niên đối với DN không phải là vấn đề lớn. Chỉ có điều, DN sẽ phải dành nhiều thời gian cho việc xác nhận công nợ và hồ sơ đầy đủ cho việc soát xét.

Ông Bùi Văn Mai, Tổng thư ký Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam cho biết, việc thực hiện soát xét báo cáo tài chính bán niên không tạo ra áp lực lớn với các công ty kiểm toán. Bởi vào thời điểm giữa năm cũng là lúc công việc kiểm toán báo cáo tài chính năm trước đó của các DN kết thúc. Báo cáo soát xét bán niên đơn giản hơn báo cáo kiểm toán, nên công ty kiểm toán đáp ứng được nhanh hơn.

Tuy nhiên, theo ông Mai, có ít nhất 3 điểm làm ảnh hưởng đến chất lượng báo cáo tài chính soát xét, cũng như báo cáo kiểm toán hiện nay. Trước hết là mức phí kiểm toán hiện rất thấp, khiến các công ty kiểm toán không thể thực hiện hết quy trình thủ tục của một cuộc kiểm toán và soát xét. Ngay cả khi tăng phí lên 20 - 30% do thực hiện thêm soát xét bán niên thì cũng vẫn là thấp so với yêu cầu. Việc thu phí thấp sẽ khiến công ty kiểm toán không có điều kiện trả lương cao, giữ chân người giỏi và chất lượng báo cáo kiểm toán sẽ bị ảnh hưởng.

Thứ hai, cần khuyến khích các DN thay đổi niên độ tài chính, thay vì dồn hết vào ngày 31/12 như hiện nay. “Đây chỉ là một thói quen, nhưng lại gây ra không ít hệ lụy. Không chỉ các công ty kiểm toán thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính năm, mà những hoạt động khác như ĐHCĐ, quyết toán thuế…, cũng dồn vào thời điểm đầu năm. Khi khối lượng công việc lớn, lại chịu sức ép về thời hạn nộp báo cáo, thì khó đảm bảo được chất lượng báo cáo kiểm toán cao”, ông Mai nói.

Điểm thứ ba, để nâng cao chất lượng kiểm toán, các DN niêm yết cần ký sớm hợp đồng kiểm toán, giúp công ty kiểm toán có kế hoạch chuẩn bị về nhân lực và nắm bắt sớm các hoạt động của DN.


(Theo Tinnhanhchungkhoan)

Chín phi lý trong quy hoạch Hà Nội

Việt Nam luôn chịu đựng các cuộc chiến tranh triền miên, người dân đều mong muốn sự ổn định lâu dài. Hơn thế, chúng ta có Hà Nội là một trong số ít các thành phố thủ đô trên thế giới 1000 năm tuổi. Nên việc dịch chuyển thủ đô lại càng phải cẩn trọng.

LTS: Tại kỳ họp Quốc hội này, đề án quy hoạch thủ đô Hà Nội với dự kiến Trung tâm hành chính quốc gia sẽ đặt ở chân núi Ba Vì sẽ được đặt lên bàn Nghị sự. Trước đó, đề án cũng đã thu hút được sự quan tâm của đông đảo người dân, giới kiến trúc sư, quy hoạch sư trong và ngoài nước cũng đã nhiều lần lên tiếng góp lời. Bài viết dưới đây là góc nhìn riêng của KTS Hà Thủy, sẽ có những phân tích được nhiều người đồng tình, song cũng sẽ còn một số quan điểm khác cần phải thảo luận thêm. Để rộng đường dư luận, Tuần Việt Nam xin đăng tải để mọi người cùng suy ngẫm.

Dịch chuyển trung tâm thủ đô (hoặc lập thủ đô mới) là một là một việc trọng đại, ảnh hưởng tới quốc gia. Song, cũng cần phải làm khi có đủ cơ sở về lý luận và thực tiễn mang lại sự thịnh vượng bền vững cho đất nước, dân tộc. Tuy nhiên, mỗi lần chuyển dịch (dù chỉ nằm trong chủ trương hay kế hoạch) trong chừng mực thường gây ra những xáo trộn nhất định về mặt chính trị, kinh tế và xã hội.

Ở nước ta, một quốc gia từng phải chịu đựng các cuộc chiến tranh triền miên, người dân đều mong muốn sự ổn định lâu dài. Hơn thế, chúng ta có Hà Nội là một trong số ít các thành phố thủ đô trên thế giới 1000 năm tuổi. Việc dịch chuyển (hoặc lập mới) thủ đô lại càng phải cẩn trọng hơn. Thế nhưng, trong đồ án Quy hoạch Thủ đô Hà Nội vừa rồi có phần thiếu luận cứ, nghiên cứu chưa thực chất nhất.

"Trung tâm Hành chính quốc gia: sẽ dành khu đất dự trữ ở Ba Vì. Tại đây sẽ xây dựng các cơ quan của Chính phủ, các Bộ ngành. Dự kiến sẽ sây dựng sau 2050..." hay "Đề xuất một quỹ đất dự phòng cho Trung tâm Hành chính quốc gia" đều là những nội dung mơ hồ. Quả thực, đây là những ý tưởng khó hiểu, nửa vời, đồng nghĩa với việc tạo tâm lý bất an, tạm bợ, gây bất ổn về lâu dài (hệ lụy nhãn tiền mà chúng ta có thể thấy ngay được tại khu vực Ba Vì hiện nay). Trước mắt, tạo nguy cơ tước đi (vĩnh viễn) cơ hội mở rộng, hoàn thiện một Trung tâm Chính trị xứng tầm và ổn định ngay tại khu vực Ba Đình và phụ cận.

Đề xuất cùng lúc 3 địa điểm dành cho Trung tâm Chính trị - Hành chính quốc gia là một ý tưởng phi lý, nửa vời.

Có rất nhiều phi lý dành cho những ý tưởng này; Nhưng có thể tóm lược vào 9 sự phi lý nổi bật:

Phi lý Thứ nhất:

Như đã phân tích trong "Tồn tại 1: Từ sai lệch về khái niệm", khi đề xuất tách rời Trung tâm Hành chính quốc gia với Trung tâm Chính trị quốc gia, những người thực hiện đồ án không hề biết rằng việc phân tách này không phù hợp với thể chế chính trị, mô hình nhà nước của Việt Nam. Ở nước ta, về nguyên tắc (đã xác định trong Hiến pháp) Hệ thống chính trị và Nhà nước là thống nhất. Chính phủ là một bộ phận không thể tách rời trong khái niệm cũng như thực thể.

Đây là sự phi lý về Khái niệm thể chế.

Chúng ta lại có thủ đô Hà Nội là một trong số ít các thành phố thủ đô trên thế giới 1000 năm tuổi. Việc dịch chuyển (hoặc lập mới) thủ đô lại càng phải cẩn trọng hơn. Ảnh cầu Thê Húc (Hồ Gươm, Hà Nội).

Phi lý Thứ hai:

Cũng có ý kiến cho rằng đây là mô hình nhà nước tiên tiến, theo hình mẫu Thủ đô Hành pháp (thủ đô thực tế) của Malaysia: Putrajaya là thành phố được quy hoạch hoàn toàn mới và được thành lập năm 1995 (cách Kuala Lumpur khoảng 30 km về phía Nam).

Song, không phải ai cũng biết rằng đây là một sản phẩm của thể chế chính trị hoàn toàn khác biệt. Xin lưu ý: Nhà nước Malaysia theo mô hình quân chủ lập hiến liên bang. Tuy nhiên, trên thực tế, quyền lực được trao nhiều hơn cho nhánh hành pháp chứ không phải lập pháp và tư pháp ("đã bị suy yếu sau những mưu toan của chính phủ thời thủ tướng Mahathir" (Nguồn: Malaysia Bách khoa toàn thư mở Wikipedia). Vì vậy, việc lập Thủ đô Hành pháp (Putrajaya) độc lập với Thủ đô Chính thức Kuala Lumpur là điều dễ hiểu. Cũng như Thái Lan (là nước theo mô hình Quân chủ nghị viện, luôn có bất ổn chính trị, tranh giành quyền lực hoặc sắc tộc, tôn giáo), Malaysia cũng có giới hạn phát triển bị ngăn cản bởi "bẫy thu nhập trung bình". Nước ta, chắc không ai muốn đi theo con đường này.

Có thể hình mẫu Putrajaya là thành phố thông minh. Nhưng với tư cách là một thành phố thủ đô Putrajaya (cùng với một số thành phố thủ đô khác) lại là thiểu số trên thế giới về sự lạc hậu: mô hình Thủ đô phân quyền. Hiện nay, (như đã nêu - Tồn tại 1) trên thế giới chỉ có 9/232 quốc gia và vùng lãnh thổ còn mô hình này (3,88%). Với các đặc điểm (xin được nhắc lại): (1) Chế độ quân chủ: 3/9; (2) Xung đột sắc tộc, tôn giáo: 7/9; (3) Tranh giành quyền lực: 7/9; (4) Các mưu toan chính trị: 8/9; (5) Nghèo đói, bạo loạn, bất ổn 6/9.

Như vậy, không có một lý do nào khả dĩ được lựa chọn để cho nước ta hình thành mô hình Thủ đô phân quyền. Xem tài liệu tại đây

Chúng ta không thể không biết: 223/232 quốc gia và vùng lãnh thổ (96,12%) có Thủ đô tập quyền (tức các trung tâm quyền lực nhà nước được bố trí ở trong cùng một thành phố), trong đó có Việt Nam. Mô hình Thủ đô tập quyền là một trong những thành tựu lớn của văn minh nhân loại, mang đến sự ổn định và phồn vinh cho các quốc gia;. Không có lý do gì khiến chúng ta phải thay đổi một mô hình đang tốt và đã được lịch sử kiểm chứng.

Cùng với sai lệch trong khái niệm, việc quy hoạch tách rời (về không gian) các Trung tâm quyền lực Nhà nước có thể sẽ dẫn đến sự biến động, làm thay đổi về cấu trúc đô thị và tổ chức thể chế. Trong đồ án quy hoạch, dù vô tình hay hữu ý, sự sao chép máy móc mô hình của quốc gia khác trong khi chưa tìm hiểu thấu đáo sẽ gây ra hiệu ứng về hệ thống, sẽ ẩn chứa những vấn đề không chỉ giới hạn trong lĩnh vực chuyên môn.

Đây là sự phi lý về Mô hình nhà nước.

Phi lý Thứ ba:

Có thể có ý kiến bác bỏ việc cho rằng (việc di chuyển Trung tâm Hành chính quốc gia lên Chân núi Ba Vì) đó là "dời đô", vì "nhiều cơ quan đầu não về chính trị và lập pháp (Quốc hội, Văn phòng Trung ương, Tòa án tối cao) sẽ vẫn ở Ba Đình" (nguồn http://hanoi.org.vn/planning/archives/date/2010/03). Nhưng thực chất (với khoảng cách đường chim bay 30 - 40 km, khoảng cách dịch chuyển thực tế 50 - 60km một chiều đi) nếu duy trì mối liên hệ trực tiếp (thống nhất) của các trung tâm này với nhau còn tệ hơn về mọi phương diện.

Cũng có thể sẽ có ý kiến sử dụng địa giới hành chính để biện minh (2 trung tâm này vẫn cùng trong 1 "thành phố Hà Nội") thì e rằng chỉ là kỹ xảo ngôn từ mà thôi. Thành phố thủ đô (cũ) của Tây Đức là Bonn chỉ cách Cologne 6 -12 km nhưng vẫn là 2 thành phố hoàn toàn riêng biệt (có chính quyền đô thị khác nhau). Sẽ không thể bao biện, nếu không, các ý tưởng về đô thị vệ tinh hay hành lang xanh (của chính đồ án này) sẽ không còn ý nghĩa.

Nếu chấp thuận khái niệm Trung tâm Hành chính quốc gia (không phải là Thủ đô Hành pháp theo thông lệ quốc tế); Chấp thuận cho việc 2 trung tâm (nơi đặt Chính phủ và nơi đặt Quốc hội, Trung ương Đảng, Tòa án tối cao) cùng "trong một thành phố Hà Nội" và không có chuyện Thủ đô phân quyền. Thì ngay lập tức vẫn sẽ xuất hiện sự phi lý khác:

Những người thực hiện đồ án có thể không biết rằng: trong 18 quốc gia thuộc nhóm các nền kinh tế lớn G20 (Argentina, Australia, Brazil, Canada, Trung Quốc, Pháp, Đức, Ấn Độ, Indonesia, Italia, Nhật Bản, Mexico, Nga, Arab Saudi, Hàn Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ, Anh, Mỹ) đều có Thủ đô tập quyền, khoảng cách trung bình giữa các trung tâm quyền lực nhà nước (Lập pháp, Tư pháp và Hành pháp) là từ 2 - 3km (tương ứng là 2,18; 1,89; 2,72km). 17/18 thủ đô có khoảng cách giữa các trung tâm quyền lực nhà nước lớn nhất <6km;>Xem tài liệu tại đây < Một số tài liệu về khoảng cách giữa các Trung tâm quyền lực Nhà nước >

1/18 thành phố có khoảng cách giữa các trung tâm lớn nhất là Seoul (tương ứng là 8,24; 8,94; 10,7km) - Sự bất hợp lý này cũng chính là một trong những nguyên nhân khiến Hàn Quốc quyết định phải di chuyển thủ đô; Mặc dù, các khoảng cách này so với khoảng cách 30 - 40km mà đồ án đề xuất là không đáng kể (chỉ bằng 1/3 - 1/4).

Các nước nói trên phần lớn theo chế độ Cộng hòa (Tam quyền phân lập); khi khoảng cách giữa các trung tâm quyền lực nhà nước đều được quy hoạch khống chế, phổ biến (gần) như vậy hẳn có lý do (về an ninh, quốc phòng, đối ngoại, giám sát, phối hợp hoạt động lãnh đạo điều hành đất nước, tiếp xúc với dân chúng và các yêu cầu khác).

Với khoảng cách (thực tế) 50 - 60km chúng tôi tin rằng những người đề xuất ý tưởng này chưa kịp nghĩ tới những hệ lụy mà nó mang lại cũng như cơ sở để tồn tại bền vững. Hay nói cách khác, để hợp lý, Hà Nội trong tương lai gần sẽ phải hình thành Thủ đô phân quyền (2 trong 1): tại Ba Vì - Thủ đô Hành pháp (thực tế) độc lập với Ba Đình - Thủ đô chính thức. Tức sao chép mô hình của 9 quốc gia (thiểu số) kể trên.

Nếu lý giải rằng trong tương lai sẽ có "Chính phủ điện tử" nên khoảng cách không còn quan trọng, thì cũng không nên quên Chính phủ là một thực thể của thể chế chính trị, rằng loài người có thể có được một "nền Hành chính điện tử". Song, không bao giờ có được một "nền Chính trị điện tử". Mặt khác, nếu có một Chính phủ điện tử thật sự thì nhu cầu về quy mô càng không cần lớn và ý đồ dịch chuyển ra khỏi trung tâm lại càng không cần thiết.

Đây là sự phi lý về Cấu trúc trung tâm.

Trong 18 quốc gia thuộc nhóm các nền kinh tế lớn G20 đều có Thủ đô tập quyền, khoảng cách trung bình giữa các trung tâm quyền lực nhà nước (Lập pháp, Tư pháp và Hành pháp) là từ 2-3km.

Phi lý Thứ tư:

Có thể những người đề xuất ý tưởng của đồ án này nghĩ về một mô hình Thủ đô chức năng (Chính trị - Hành chính) riêng biệt (theo kiểu Washington, D.C - Mỹ; Canberra - Australia; Brasillia - Brazil), quả thực, đây là những hình mẫu mà bất cứ ai làm chính trị (hiện đại) đều mong ước, song, không phải quốc gia nào cũng thành công.

Washington, D.C (Thành lập 16/7/1790; Chính thức: 1800 - nay) là một thành phố được quy hoạch (mới), sau khi nước Mỹ giành được độc lập do đích thân Tổng thống đầu tiên G.Washington lựa chọn. Washington, D.C không chỉ là trung tâm chính trị (nơi đặt Nhà quốc hội; Chính phủ; Tòa án tối cao) mà còn là trung tâm văn hóa, với rất nhiều khu vực di sản, bảo tàng, nơi tưởng niệm, đã trở thành biểu tượng tinh thần của nước Mỹ hiện đại; Thủ đô trước đó: New York City; Philadelphia.

Canberra (chọn cho vị trí của thủ đô của quốc gia vào năm 1908; Chính thức lựa chọn và xây dựng bắt đầu vào năm 1913); Canberra vừa là trung tâm chính trị (nơi đặt Chính phủ; Nghị viện; Tòa án tối cao) vừa là trung tâm văn hóa quốc gia (nơi bố trí Đài tưởng niệm chiến tranh; Bảo tàng nghệ thuật, Bảo tàng quốc gia và Thư viện Quốc gia Australia; Thủ đô trước đó: Melbourne.

Brasília (Thành phố đã được quy hoạch và phát triển năm 1956; Năm 1960, chính thức trở thành thủ đô quốc gia Brazil); Cũng như Washington, D.C, Canberra, Brasilia vừa là trung tâm chính trị, vừa là trung tâm văn hóa và tinh thần quốc gia; Năm 1987 Brasillia được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa của nhân loại - Thành phố di sản duy nhất được xây dựng trong thế kỷ 20; Thủ đô trước đó: Rio de Janeiro.

Mặt khác, có hai quốc gia có kế hoạch (dự định) áp dụng mô hình này nhưng đã thất bại:

Argentina: Chính phủ Argentina cũng đã dự định chuyển thủ đô hành chính tới một vị trí khác. Dưới thời tổng thống Raúl Alfonsín (1983-1989), một Luật (Luật số 23 512) về chuyển thủ đô từ Buenos Aires đến Viedma, một thành phố của vùng Patagonia được thông qua nhưng do những khó khăn về kinh tế, dự án này đã không được thực hiện.

Hàn Quốc: Thực hiện theo kế hoạch đã được Quốc hội Hàn Quốc thông qua hồi tháng 12/2003; Ngày 11/8/2004, chính phủ Hàn Quốc loan báo chính thức chọn khu vực Yeongi-Gongju thuộc tỉnh South Chungcheong làm địa điểm xây dựng thủ đô mới của Hàn Quốc. Địa điểm này cách thủ đô Seoul hiện tại 150 km về phía nam. Thủ đô mới (tên là Sejong có vị trí và địa thế được coi là đắc địa trong một thung lũng, rất phù hợp với luật "feng shui" - phong thuỷ) sẽ là nơi đặt 85 cơ quan hành chính đầu não của chính phủ trung ương, bao gồm cơ quan lập pháp, tư pháp, văn phòng tổng thống, văn phòng Quốc hội, Toà án tối cao; Việc di dời thủ đô sẽ được bắt đầu từ năm 2012 và hoàn thành vào năm 2030.

Mặc dù đã tiến hành trưng cầu dân ý (việc lựa chọn 1/ 4 địa điểm đã được thực hiện với 1 quy trình rất nghiêm túc với uỷ ban đánh giá gồm 80 thành viên); Kế hoạch này vẫn không có được sự đồng thuận cao trong xã hội; Ngày 11/1/2010, Chính phủ Hàn Quốc đã công bố bản kế hoạch phát triển thành phố Sejong, thành một trung tâm khoa học và giáo dục, với tổng đầu tư 16,5 nghìn tỷ won (14,6 tỷ USD). Như vậy, Chính phủ Hàn Quốc đã từ bỏ kế hoạch được thông qua năm 2005 dưới chính quyền của cố Tổng thống Roh Moo-hyun. Theo đó, 9 bộ trong chính phủ cùng 4 cơ quan ngang bộ (chiếm 2/3 chính phủ) sẽ được chuyển đến Sejong từ năm 2012 nhằm thực hiện cam kết của chính phủ xóa bỏ sự chênh lệch về vùng miền và sự mất cân đối về phát triển giữa thành phố và nông thôn. Tuy nhiên, chính phủ đương nhiệm cho rằng kế hoạch này không hiệu quả và lãng phí tài nguyên quốc gia (nguồn: TTXVN/Vietnam+)

Như vậy, cho đến nay, trên thế giới mới chỉ có ba quốc gia thực hiện mô hình này thành công (như trên), mặc dù đây là mô hình lý tưởng; song, để biến ý tưởng thành hiện thực phải có tập hợp các điều kiện cần và đủ sau:

1. Việc từ bỏ thủ đô cũ bởi các lý do chính trị và an ninh; quy hoạch thủ đô mới mang lại sinh lực cho đất nước, gắn với hình ảnh thể chế mới, mang lại sự ổn định, thịnh vượng, đảm bảo an ninh quốc phòng (theo hình mẫu Washington, D.C);

2. Lựa chọn địa điểm được nghiên cứu rất kỹ, tạo được được sự đồng thuận của xã hội, chuẩn bị kỹ lưỡng cả về phương diện pháp lý (trưng cầu dân ý, đưa vào hiến pháp, các bộ luật), kỹ thuật và tài chính;

3. Là Thủ đô tập quyền, được quy hoạch tổng thể (mới) ngay từ đầu cho chức năng chủ đạo: phục vụ hoạt động chính trị, hành chính của các trung tâm quyền lực nhà nước (bao gồm Lập pháp, Tư pháp, Hành pháp);

4. Tổ chức rành mạch các trung tâm quyền lực tập trung trong phạm vi bán kính hợp lý (có tính lý tưởng); Cụ thể các khoảng cách (Quốc hội - Chính phủ; Quốc hội - Tòa án tối cao; Chính phủ - Tòa án tối cao) tương ứng: Washington, D.C (2,54; 0,42; 2,90km); Canberra (4,32; 1,45; 5,23km); Brasillia (4,53; 0,36; 4,38km);

5. Với vai trò chủ đạo là trung tâm chính trị quốc gia, song các đô thị này cũng thành công trong việc tạo ra một hình ảnh trung tâm văn hóa, tinh thần của dân tộc;

6. Do các quy hoạch gia hàng đầu thế giới thiết kế (qua thi tuyển); Thời gian chuẩn bị đầu tư và xây dựng và đưa vào hoạt động không quá 10 năm;

Những đặc điểm nêu trên cho thấy việc đồ án quy hoạch Hà Nội đề xuất rời rạc 3 địa điểm (Ba Đình, Mỹ Đình và Ba Vì) cho Trung tâm quyền lực nhà nước cũng như cách thức tiến hành cho thấy một sự nghiên cứu thiếu thấu đáo, thiếu nghiêm cẩn (nghiêm túc, cẩn trọng). Trái ngược với những nỗ lực của các nước kể trên mong muốn có được một Thủ đô tập quyền hoàn chỉnh làm biểu tượng cho sức mạnh của quốc gia.

Đây là sự phi lý về Ý thức nghiêm cẩn.

Phi lý Thứ năm:

Những nước lập thủ đô mới thành công thì rất ít trong khi đó các nước lựa chọn những thủ đô truyền thống (có từ khi lập quốc) để phát triển thành công là rất phổ biến. Có thể dẫn ra đây các quốc gia Argentina, Canada, Trung Quốc, Pháp, Đức, Ấn Độ, Indonesia, Italia, Nhật Bản, Mexico, Nga, Arab Saudi, Hàn Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ, Anh, Mỹ; Tây Ban Nha, các nước thuộc cộng đồng châu Âu khác.

Biết cần phải dời đô, định đô làm xoay chuyển vận mệnh, cục diện của đất nước, đấy là sứ mệnh của lãnh tụ. Biết trân trọng giá trị lịch sử, hoàn thiện di sản của thế hệ đi trước, thể hiện đẳng cấp trí tuệ của lãnh đạo. Không thay đổi, dịch chuyển thủ đô cũng là một lựa chọn sáng suốt.

Trên thế giới, đến nay mới chỉ có 2 quốc gia thành công với việc lựa chọn phi truyền thống đó là Brazil và Australia, (với lịch sử hơn 220 năm; Washington, D.C đã trở thành thủ đô truyền thống, là biểu tượng văn hóa, tinh thần và quyền lực trí tuệ của nước Mỹ).

2/232 quốc gia và vùng lãnh thổ có thủ đô mới thành công; 9/232 quốc quốc gia và vùng lãnh thổ có thủ đô phân quyền, các con số này đã nói lên nhiều điều.

Vùng đất lịch sử của các thủ đô truyền thống luôn được coi là thiêng liêng và là biểu tượng của quốc gia. Trong quá khứ, Berlin đã nhiều lần là thủ đô của các nước Đức như Đế chế Phổ, Đế chế Đức hay nước Cộng hòa Dân chủ Đức; Bonn đã từng là thủ đô của nước Cộng hòa Liên bang Đức từ năm 1949 đến 1990; Sau khi nước Đức thống nhất (ngày 3 tháng 10 năm 1990); Berlin lại được chọn lại làm thủ đô của nước Đức thống nhất; Với đa số sít sao (338 phiếu thuận trên 320 phiếu chống) vào ngày 20 tháng 6 năm 1991 Quốc hội Liên bang quyết định dời chính phủ và quốc hội từ thủ đô tạm thời Bonn về Berlin. Tháng 9 năm 1999 công cuộc dời đô hoàn thành.

Cần phải nói thêm Bonn là một thành phố đã được thiết kế làm Thủ đô Chính trị - Hành chính (theo kiểu Washington, D.C) hoàn chỉnh, đã hoạt động tốt (tạo ra một CHLB Đức hùng cường) có thể là giấc mơ của nhiều quốc gia khác. Việc lựa chọn quay trở lại thủ đô truyền thống (với khu vực làm việc của Chính phủ, Quốc hội và Tòa án tối cao chật hẹp hơn) thể hiện ý chí đoàn kết, toàn vẹn lãnh thổ của một nước Đức thống nhất.

Vùng đất lịch sử rất quan trọng trong việc khẳng định chủ quyền quốc gia, Jerusalem là một ví dụ (nơi tranh chấp triền miên giữa Israel và Palestine). Trên thế giới những thành phố lịch sử 1000 năm như Hà Nội cùng với Vienna (Áo); Rome (Italia); Paris (Pháp); Bắc kinh (Trung Quốc); Brussels (Bỉ); Athens (Hy lạp); Cairo (Ai Cập); Delhi (Ấn Độ); London (Anh); Madrid (Tây Ban Nha); và một số thành phố khác được coi là thủ đô vĩnh viễn của quốc gia; Xem tài liệu tại đây

Tất cả các nước phát triển hàng đầu thế giới đều chọn được vị trí tốt nhất (của quốc gia) cho thành phố thủ đô; Khảo sát thủ đô của 18 quốc gia (G20) cho thấy sự lựa chọn vị thế của thành phố thủ đô như sau: Vùng đồng bằng: 14/18; Lưu vực sông, hồ: 17/18; Thung lũng: 11/18; Cao nguyên 3/18; Vùng núi, chân núi cao: không có. Hà Nội ở trong khu vực đồng bằng, lưu vực sông hồ, thuộc nhóm đa số.

Tất cả các quốc gia nói trên đều tập trung hoàn thiện các trung tâm quyền lực tại địa danh, địa điểm lịch sử với sự tự hào không giấu diếm. Ấn độ đã tạo ra New Delhi tại vùng đất thiêng liêng - một quận Hành chính dành cho các trung tâm quyền lực nhà nước. Đây cũng là một giải pháp đáng để tham khảo.

Tại thành phố thủ đô các nước (phát triển) đều giữ vị trí trang trọng nhất cho trung tâm chính trị như một biểu tượng của quốc gia và đặt tại trung tâm thành phố (luôn luôn là ở giữa trung tâm thành phố). Họ khai thác được lợi thế quy tụ của vùng đất thuận lợi về địa chính trị và địa kinh tế như một sức mạnh mang ý nghĩa quyết định cho việc chấn hưng đất nước (những Tokyo; Berlin và nhiều thành phố khác).

Các quốc gia có thủ đô ngàn năm tuổi vẫn đầy sức sống; bao gồm: Anh (London); Ấn độ (New Delhi); Italia (Roma); Pháp (Paris); Trung Quốc (Bắc Kinh); Các thành phố thủ đô này cũng giống như Hà Nội về địa thế, các thành phố này đều nằm trong các khu vực giữa (trung tâm), khu vực cao của vùng đồng bằng rộng lớn, đất đai trù phú, là nơi hợp lưu các dòng sông, hội tụ các con đường;

Việc lựa chọn các vùng đất rộng lớn đã thể hiện khát vọng phát triển, tầm nhìn của những người đứng đầu đất nước (ngược lại với xu thế thời Cổ đại và Trung đại - các lãnh chúa, các tiểu vương quốc thường chọn nơi có địa thế xung yếu, hiểm trở dễ phòng thủ làm nơi đóng đô); Các thành phố thủ đô này đều đã trở thành biểu tượng tinh thần của quốc gia, trung tâm văn minh thế giới.

Năm nước trên đây đều là những quốc gia hùng mạnh trong suốt quá trình lịch sử. Ngày nay, các quốc gia này vẫn duy trì các trung tâm quyền lực nhà nước tại vị trí truyền thống (ở giữa) các vùng đất mà tổ tiên họ đã chọn lựa và duy trì vị thế hàng đầu trên trường quốc tế. Xem tài liệu tại đây - Nhóm các nền kinh tế lớn>

Việt Nam vinh dự nằm trong số ít các quốc gia có thủ đô ngàn năm tuổi. Thăng Long - Hà Nội có được vị thế của "các thủ đô vĩnh hằng" như đã nêu (khẳng định tầm nhìn thiên niên kỷ, nhãn quan quảng đại của Thái tổ Lý Công Uẩn và Chủ tịch Hồ Chí Minh). Lẽ ra, đồ án phải thấy được thế mạnh, sự tương đồng (về đẳng cấp) này, tiếp thu kinh nghiệm để khẳng định vị thế, nâng cao tính cạnh tranh, duy trì sự phát triển kế tiếp di sản chức năng một cách bền vững của đô thị thủ đô Hà Nội trong khu vực và trên thế giới. Ngược lại, việc lựa chọn giải pháp đưa Trung tâm quyền lực Nhà nước ra ngoài vùng đất lịch sử (chúng ta sẽ phải cạnh tranh bằng tài nguyên, đất đai, tài chính - điều này chúng ta luôn ở thế yếu) tức tư duy, hành động "lấy sở trường làm sở đoản", "dời biển lớn, vào nơi rãnh, ngòi".

Đây là sự phi lý về Nhận thức giá trị.

Việc lựa chọn các vùng đất rộng lớn đã thể hiện khát vọng phát triển, tầm nhìn của những người đứng đầu đất nước (ngược lại với xu thế thời Cổ đại và Trung đại - các lãnh chúa, các tiểu vương quốc thường chọn nơi có địa thế xung yếu, hiểm trở dễ phòng thủ làm nơi đóng đô). Các thành phố thủ đô này đều đã trở thành biểu tượng tinh thần của quốc gia, trung tâm văn minh thế giới.

Phi lý Thứ sáu:

Khi đề xuất địa điểm (dù cho 40 năm sau) đặt trung tâm Hành chính quốc gia (đồng nghĩa với Trung tâm Chính trị quốc gia) tại Ba Vì - tức kế hoạch dời đô. Những người đề xuất có thể không biết rằng trong số các thành phố thủ đô 1000 năm tuổi của thế giới (khoảng 29) chỉ duy nhất 2 quốc gia (có kế hoạch) từ bỏ vùng đất lịch sử để lập thủ đô mới. Đó là Hàn Quốc (với Seoul và Sejong); Myanma (với Yangon và Naypyidaw);

Myanma có kế hoạch dời đô là do ý chí của giới quân sự cầm quyền; Naypyidaw có một vị trí trung tâm hơn Yangon (mặt khác Yangon tuy là một thành phố lâu đời song cũng kém phát triển). Kế hoạch này hiện nay đang được thực hiện, chưa rõ có thành công hay không.

Như đã giới thiệu, với Hàn Quốc kế hoạch dời đô có lý do phức tạp hơn: Seoul là một thành phố cổ, từng là kinh đô của Bách Tế (18 TCN - 660) và Triều đại Triều Tiên (1392-1910); Thành phố đã trở thành thủ đô của Hàn Quốc sau khi thành lập chính phủ năm 1948; Sự đông đúc, sự phồn vinh của thành phố này thể hiện sức hút và sự thành công của đô thị. Tuy nhiên, với tư cách một trung tâm chính trị quốc gia, Seoul có nhiều bất lợi, xin được dẫn:

Bất lợi về an ninh, quốc phòng: Bán đảo Triều Tiên hiện vẫn đang ở trong tình trạng chiến tranh trong khi đó khoảng cách Seoul với biên giới Bắc Triều Tiên chỉ có 50km (trong tầm đạn pháo) - mặc dù không được (hoặc ít được) nói đến song có lẽ đây là lý do chính của chủ trương di chuyển.

Bất lợi về vị trí, dân số và phát triển thiên lệch: Hàn Quốc là một quốc gia không thuận lợi về tự nhiên; quốc gia này phần lớn diện tích là đồi núi, thành phố Seoul nằm trong lưu vực Sông Hàn (Han River) là một vùng thung lũng rộng lớn nhất (tuy diện tích cũng chỉ 605 km²). sự thiên lệch về vị trí; về dân số (thành phố trên 10.000.000 người; vùng đại đô thị khoảng 24.500.000 người) và phát triển (Seoul tạo ra 21% của GDP cả nước - 175/ 833 Tỷ USD (2009) - mặc dù nhắc đến nhiều, tuy nhiên không phải lý do chính.

Bất lợi về cấu trúc đô thị quyền lực (thủ đô): Seoul là một thành phố lâu đời, trung tâm quyền lực của các triều đại phong kiến thường được đặt tại cung điện chính của nhà vua (Gyeongbokgung); Qua thời kỳ độc tài, nơi này vẫn là nơi ở và làm việc của Tổng thống Syngman Rhee; Sang thời kỳ dân chủ, Gyeongbokgung đã được đổi tên (Cheongwadae - ngày 30 tháng 12 năm 1960 được Tổng thống Yun sun - Po, người đã tuyên bố rằng tên cũ là một lời nhắc nhở của chế độ thực dân Nhật Bản và cai trị độc tài của Tổng thống Rhee) nhưng các trung tâm quyền lực khác của nhà nước (Quốc hội, Tòa án tối cao) do không có địa thế đã phải bố trí phân tán cách xa nhau 8 ~ 10km (như đã nêu ở phần "Sự phi lý Thứ ba").

Bất lợi về vị thế của trung tâm quyền lực nhà nước: Với đặc điểm điển hình về lựa chọn vị thế của các trung tâm quyền lực thời Trung cổ, với địa thế tựa vào phía nam núi Bugaksan và vị trí ở vùng ngoại biên của đô thị (giáp núi) - Không biết có phải vì lý do này khiến cho bán đảo Triều Tiên luôn bị chia cắt, chiến tranh triền miên hay không? Nhưng có thể khẳng định rằng trong 18 quốc gia có nền kinh tế lớn thì Hàn Quốc là nước duy nhất có trụ sở chính phủ (phủ tổng thống) ở vào địa thế này; Sự bất lợi về phong thủy đã được nhắc tới khi Hàn Quốc tiến hành kế hoạch lựa chọn thủ đô mới (nguồn: http://www.koreaittimes.com và Korea Now).

Với các lý do dời đô (chính đáng) như vậy; quá trình chuẩn bị rất chu đáo, bài bản (đến nay đã 7 năm), hợp hiến, hợp luật; Hàn Quốc có thực lực kinh tế lớn hơn ta nhiều lần (832,5 so với 92, 4tỷ USD) vậy mà kế hoạch này vẫn thất bại. Cuối cùng, ở đâu cũng vậy, lịch sử và lòng dân vẫn mạnh hơn hết thảy.

Vậy, lý do gì để di chuyển Chính phủ (từ đây sẽ gọi là Trung tâm Chính trị) ra khỏi Hà Nội là gì?

Hà Nội, (chúng tôi nói về vùng đất lịch sử Ba Đình - Hoàn Kiếm - Hồ Tây) - Một "thành phố vì hòa bình" Hà nội của chúng ta không (tại thời điểm dời chuyển thủ đô) là biểu tượng của thời kỳ chiếm hữu nô lệ như Philadelphia, không có bất ổn như Melbourne, không phải thủ phủ của chế độ độc tài, là một trong những thành phố bạo động nhất thế giới như Rio de Janeiro, cũng không phải thành lũy (cố thủ) của lãnh chúa trung cổ như Seoul, không có ý chí (duy ý chí) của giới quân sự cầm quyền như Myanma.

Hà nội, (hiện trạng) cũng có mật độ dân số (trong đô thị, các quận, thị xã: Hà nội khoảng 9.330/km2; so với Seoul 17.270/ km2; Tokyo 14.250/km2; Paris 20.780 /km2; London 8.980/km2; Bắc Kinh 7.400/km2; Delhi 28.440 / km2; Jakarta 12.740/km2 ; Buenos Aires 15.030; Moscow 9.720/ km2) thuộc nhóm trung bình (nguồn: http://en.wikipedia.org).

Đưa trung tâm ra ngoài Hà Nội với lý do đất chật người đông, vì thế, không thuyết phục; Bởi lẽ, Trung tâm Chính trị không cần đất quá nhiều (chỉ cần >60ha là đủ); Có thể dẫn: London: khoảng 40ha (không bao gồm hoàng cung 80ha); Berlin: khoảng 60ha (không bao gồm công viên); Tokyo: khoảng 85ha (không bao gồm hoàng cung 190ha); Washington, D.C: khoảng 85ha (không bao gồm các không gian công cộng khác). Với bán kính <6km>

Hà Nội, chưa giầu, càng không phải nguyên nhân làm mất cân đối vùng miền, ngược lại sức hút của "đất thánh Hà thành" là hạt nhân, làm động lực cho phát triển vùng và cả nước.

Hà Nội, cũng không có vấn đề về an ninh quốc phòng như Seoul (vùng chiến sự), Melbourne; Rio de Janeiro (thành phố cảng); Hà Nội luôn là nơi Việt Nam có những chiến thắng quyết định trong các cuộc chiến tranh vệ quốc.

Hà Nội, với Nhà Quốc hội đang được xây dựng mới (để xây dựng được, chúng ta đã phải dỡ bỏ Hội trường Ba Đình - nơi đã ghi nhận rất nhiều sự kiện lịch sử trong thế kỷ 20) là sự khẳng định khu vực Ba Đình là Trung tâm Chính trị, nơi thiêng liêng, biểu tượng cho sự thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của toàn dân tộc Việt Nam. Đất nước mới thống nhất được 35 năm, vận nước đang lên, không có lý gì chuyển đổi (để từ xấu thành tốt) mà ngược lại, việc chuyển đổi có thể chuyển tốt thành xấu.

Đồ án đã không chứng minh và không thể chứng minh được lý do phải chuyển dời Trung tâm Chính trị ra khỏi Ba Đình (vào năm 2050). Hà Nội không có luận cứ cho việc phân rã, chuyển dời thủ đô (dù chỉ là trong ý nghĩ). Chỉ có thể hoàn thiện và mở rộng.

Đây là sự phi lý về Lý do dời đi.

Trong số các thành phố thủ đô 1000 năm tuổi của thế giới (khoảng 29) chỉ duy nhất 2 quốc gia (có kế hoạch) từ bỏ vùng đất lịch sử để lập thủ đô mới. Đó là Hàn Quốc (với Seoul và Sejong). Myanma (với Yangon và Naypyidaw). Một (Myanma) chưa rõ có thành công hay không. Một (Hàn Quốc) đã thất bại.

Phi lý Thứ bảy:

Quy hoạch chung Thủ đô Hà Nội với mong muốn có được một Trung tâm Chính trị - Hành chính quốc gia xứng tầm, tương xứng, là nguyện vọng chính đáng không riêng những người có trách nhiệm thực hiện mà là nguyện vọng chung của toàn dân; Tuy nhiên, giải quyết nhiệm vụ này như thế nào là một chuyện khác.

Việc đồ án đề xuất lựa chọn: "Trung tâm Hành chính quốc gia: sẽ dành khu đất dự trữ ở Ba Vì. Tại đây sẽ xây dựng các cơ quan của Chính phủ, các Bộ ngành. Dự kiến sẽ xây dựng sau 2050..."

Xét riêng về địa điểm, đây là lựa chọn sai lầm, vì:

1. Ba Vì cách quá xa trung tâm Chính trị Ba Đình (không thể hợp lý trong việc tổ chức không gian và thời gian với khoảng cách 30 ~ 40 km (50 ~ 60km thực tế) giữa các trung tâm quyền lực nhà nước sẽ không thể tổ chức hợp lý các quan hệ lãnh đạo, điều hành đất nước, đối nội và đối ngoại, thời chiến và thời bình). Lãng phí trên mọi phương diện. Trên thế giới, (ngoại trừ các nước có Thủ đô phân quyền) không quốc gia phát triển nào có cách bố trí này.

2. Vị trí lựa chọn ở khu vực đô thị ngoại biên thành phố (lệch tâm), việc giải quyết mối liên hệ (không truyền thống) sẽ gặp nhiều bất lợi về nhiều phương diện, không chỉ khi kết nối giao thông tối ưu cho các hoạt động cục bộ và toàn thể; (khảo sát 18 quốc gia thuộc nhóm các nền kinh tế lớn G20 cho thấy 17/18 có các trung tâm quyền lực nhà nước bố trí tại một khu vực trung tâm (giữa) thành phố; Riêng Hàn Quốc có phủ Tổng thống bố trí lệch tâm (cũng áp chân núi - xem Sự phi lý Thứ tư và Thứ sáu) - đây là một hạn chế, không phải ưu việt.

3. Về an ninh quốc phòng: Núi Ba Vì là một khu vực linh thiêng (nhưng đơn độc), tiến thoái lưỡng nan (thế phòng thủ bị động - không phù hợp với chiến tranh hiện đại), dễ bị cô lập, chia cắt, không có khả năng ứng biến (với khoảng cách quá xa Trung tâm Chính trị Ba Đình sẽ rất hạn chế trong phối hợp lãnh đạo đất nước trong tình trạng khẩn cấp), vì vậy, hoàn toàn bất lợi khi đặt Chính phủ ở đây.

4. Sai lầm về địa thế: vùng chân Núi Ba Vì với địa hình bán sơn địa, địa thế "tiền án, hậu trẩm" chỉ có thể phù hợp với việc đặt đền đài, lăng tẩm, nơi thờ cúng (có thể tham khảo các bài viết "Hậu thế hiểu sai Chiếu dời đô nên định đô sai?" và "Đọc lại "Chiếu dời đô" để thấy tầm nhìn quy hoạch của ông cha"); Chọn nơi đặt Chính phủ và các cơ quan trung ương (tức thủ đô - dù chỉ là dự kiến) phải chọn nơi "chính", "giữa", "tụ hội quan yếu của bốn phương" (quy tụ với nghĩa đen và nghĩa bóng - về giao thông và lòng người), địa thế rộng lớn, có khả năng phát triển lâu dài. Khu vực đồ án đề xuất thuộc thế "cùng", đường "cụt". Vị thế này thường dùng chọn cho các đô thành thời trung cổ của các lãnh chúa phong kiến (ở nước ta có Nhà Hồ, Nhà Mạc cũng ở thời này) - Chúng ta cũng đều biết vì sao thời trung cổ còn được ví như "đêm dài" trong lịch sử loài người.

Đây là sự phi lý về Lý do chuyển đến.

Phi lý Thứ tám:

"Về trung tâm hành chính mới, quy hoạch chỉ đặt vấn đề có quỹ đất dự phòng" Người đại diện cho Bộ Xây dựng phát biểu (nguồn: http://hanoi.org.vn/planning/archives/394 ). Trái ngược với các tuyên bố trước đó của đại diện khác cũng của Bộ Xây dựng: "Trung tâm hành chính quốc gia sẽ về chân núi Ba Vì" (nguồn: http://dantri.com.vn/c20/s20-382199/trung-tam-hanh-chinh-quoc-gia-se-ve-chan-nui-ba-vi.htm). đồng thời trái ngược với nội dung đồ án đã được trưng bày xin ký kiến nhân dân.

Và "Cần có trục Thăng Long trong quy hoạch Hà Nội" (nguồn: http://vnexpress.net/GL/Xa-hoi/2010/04/3BA1B1FE/ - một sự khẳng định của đại diện Văn phòng thường trực Ban chỉ đạo quy hoạch vùng thủ đô. Và "Chưa quyết địa điểm xây Trung tâm hành chính quốc gia"; "nhưng định hướng là theo vị trí kết thúc của trục Thăng Long, qua hồ Đồng Mô, dưới chân núi Ba Vì" (nguồn: http://vietnamnet.vn/chinhtri/201004/Chua-quyet-dia-diem-xay-Trung-tam-hanh-chinh-quoc-gia-905539/)

Đồ án đã gây lãng phí lớn, khi chỉ vì điều này (khu đất dự phòng) đã phải mở một trục "Thăng Long" - hệ quả của ý tưởng Trung tâm Hành chính quốc gia cách xa 30 - 40km với chi phí phải cần tới trên 10.000 tỷ đồng (trong khi phân bổ ngân sách trung ương năm 2010 chi cho Chương trình biển Đông, hải đảo, cảnh sát biển chỉ có 1.708 tỷ đồng - nguồn: Tủi cho kinh tế biển); Nếu việc lựa chọn vị trí này (Chính phủ - Trung tâm Hành chính quốc gia) sai lầm thì toàn bộ cấu trúc đô thị sẽ bị phá vỡ và con đường này sẽ không còn có ý nghĩa; Ai sẽ chịu trách nhiệm về sự lãng phí này?

"Nam Phi có Thủ đô Lập pháp, Thủ đô Hành pháp, các cơ quan đầu não ở các đô thị khác nhau"; Với lời giải thích này khiến chúng ta có thể hiểu đến năm 2050 Việt Nam cũng sẽ có Thủ đô Hành pháp như họ; nguồn: http://www.vtc.vn/2-247249/xa-hoi/

Tổng hợp lại, thấy các ý tưởng đề xuất rất mơ hồ, thiếu luận cứ, trong khi đây là nội dung quan trọng nhất; Sự không nhất quán trong phương pháp luận thể hiện nội dung đồ án chưa được nghiên cứu đầy đủ và thực chất.

Cần phải thẳng thắn rằng đồ án quy hoạch Thủ đô Hà Nội dường như đã lấy Malaysia và Nam Phi làm hình mẫu; Khi đưa ra lời giải thích như trên chắc vị đại diện này quên Nam Phi có chế độ (phân biệt chủng tộc) Apartheid đã "sáng tạo" nên 1 quốc gia có 3 thủ đô độc nhất vô nhị trên thế giới (Thủ đô Lập pháp: Cape Town; Thủ đô Tư pháp: Bloemfontein; Thủ đô Hành pháp: Pretoria); và Malaysia đã tạo ra một Thủ đô Hành pháp Putrajaya là sản phẩm "với những mưu toan của chính phủ thời thủ tướng Mahathir"; Có gì chung với Việt Nam không?

"Qui hoạch là ý chí của quyền lực" nhưng nên là ý chí của quyền lực trí tuệ, quyền lực cầu thị, của quyền lực quên mình, đưa lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết.

Đây là sự phi lý về Năng lực quyền hạn.

Phi lý Thứ chín:

Sai lầm về khái niệm đã dẫn đến sai lầm về mô hình nhà nước; sai lầm về mô hình nhà nước đã dẫn đến sai lầm về cấu trúc đô thị; sai lầm về cấu trúc đô thị đã dẫn đến sai lầm trong giải pháp lựa chọn địa điểm và tổ chức không gian.

Sai lầm về tư duy (do trình độ) sẽ ảnh hưởng đến phương pháp và thái độ làm việc; Sự ngộ nhận về năng lực, quyền hạn sẽ biến việc lớn thành việc nhỏ, dẫn đến vai trò chính phụ bị đảo lộn.

Việc hệ trọng như kế hoạch dời đô (nếu Quốc hội đồng tình, đồng ý với đồ án Quy hoạch Hà Nội, tức chấp thuận với kế hoạch di chuyển Chính phủ - đồng nghĩa với dời đô vào năm 2050) song cách thức tiến hành rất xem nhẹ (Chưa nghiên cứu thấu đáo đã khẳng định ý đồ; Không qua trưng cầu dân ý; Không thông qua Quốc hội; Không có luận cứ về sự cần thiết phải dịch chuyển Trung tâm Chính trị - Hành chính quốc gia ra ngoài vùng đất lịch sử. Không có luận cứ cho thấy sự đúng dắn của địa điểm được lựa chọn).

"Trung tâm Hành chính quốc gia: sẽ dành khu đất dự trữ ở Ba Vì. Tại đây sẽ xây dựng các cơ quan của Chính phủ, các Bộ ngành. Dự kiến sẽ sây dựng sau 2050..." hay "Đề xuất một quỹ đất dự phòng cho Trung tâm Hành chính quốc gia" đều là những nội dung rất khó hiểu và nửa vời.

Khó hiểu - Vì sự phi lý về Khái niệm thể chế; về Mô hình nhà nước; về Cấu trúc trung tâm; về Ý thức nghiêm cẩn; về Nhận thức giá trị; về Lý do dời đi; về Lý do chuyển đến; về Năng lực quyền hạn. Khó hiểu hơn nữa: với các ý tưởng đề xuất tản mạn, manh mún, mờ nhạt và lửng lơ, không khẳng định được một Trung tâm Chính trị xứng tầm, ổn định và bền vững; Không trả lời được câu hỏi: Chúng ta đang quy hoạch một Đô thị thủ đô (lấy Trung tâm Chính trị - Hành chính quốc gia làm hạt nhân chủ đạo) hay chỉ tổ chức quy hoạch một Hệ thống quần cư đô thị và thêm vào đó các Trung tâm Hành chính (hoặc Chính trị) quốc gia?

Nửa vời - Vì theo nội dung của đồ án, từ 20 - 40 năm tới sẽ không có một khu vực nào được lựa chọn để quy hoạch tập trung, hoàn chỉnh, ổn định; Tất cả đều "ăn nhờ, ở đậu" ngóng về thời điểm (Năm 2050 - năm mà sự "Phi lý thứ hai" và "Phi lý thứ ba" xuất hiện) cùng lúc sẽ có 3 Trung tâm Chính trị - Hành chính quốc gia với "hiện tượng giao thông con lắc của thời đại chúng ta khi giải quyết các thủ tục hành chính"(Quy hoạch đô thị: Những khái niệm bị lật nhào) và đánh giấu một sự kiện còn khó hiểu hơn: chúng ta sẽ có Thủ đô phân quyền với một Chính phủ "ra ở riêng" ở Chân Núi Ba Vì.

Quả thực, đây là những ý tưởng khó hiểu, nửa vời, đồng nghĩa với việc tạo tâm lý bất an, tạm bợ, gây bất ổn về lâu dài (hệ lụy nhãn tiền mà chúng ta có thể thấy ngay được tại khu vực Ba Vì hiện nay). Trước mắt, tạo nguy cơ tước đi (vĩnh viễn) cơ hội mở rộng, hoàn thiện một Trung tâm Chính trị xứng tầm và ổn định ngay tại khu vực Ba Đình và phụ cận.

Trong khi, với điều kiện hiện nay, hoàn toàn có thể quy hoạch một Thủ đô Hà Nội (mới) - "một thủ đô vĩnh viễn" giữa vùng đất lịch sử, thiêng liêng mà không phải là phương án di dời, chắp vá như đề xuất của đồ án. Nếu có khó khăn, có lẽ, do năng lực hạn chế của những người tổ chức, tham gia thực hiện.

Đây là sự phi lý Không thể gọi tên; bởi, Nửa vời, bản thân đã là Phi lý.

"Đây là một ý tưởng nửa vời, đồng nghĩa với việc tạo tâm lý bất an, tạm bợ, gây mất ổn định về lâu dài. Trước mắt, tạo nguy cơ tước đi (vĩnh viễn) cơ hội mở rộng, hoàn thiện một trung tâm chính trị xứng tầm và ổn định ngay tại khu vực Ba Đình và phụ cận".

Các câu hỏi đặt ra:

1. Chúng ta đã dỡ bỏ đi Hội trường Ba Đình - địa điểm lịch sử của thời đại Hồ Chí Minh để xây dựng Nhà Quốc hội (mới) - Thể hiện ý chí toàn Đảng, toàn dân coi Ba Đình là Trung tâm Chính trị vĩnh viễn; Vậy tại sao không quy hoạch hoàn chỉnh khu vực này và phụ cận trở thành Trung tâm Chính trị - Hành chính quốc gia đàng hoàng, tập trung, tương xứng với tầm vóc của một nước Việt Nam (mới) tại vùng đất lịch sử, ngay trong lòng thủ đô ngàn năm tuổi (thịnh vượng bền vững như Roma, London, Paris, Bắc Kinh và Delhi) "đúng là nơi thượng đô kinh sư mãi muôn đời"?

2. Các mô hình phát triển, cấu trúc đô thị của Thủ đô Hà Nội sẽ như thế nào để có thể phát triển bền vững và có khả năng cạnh tranh (thực sự) trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương? Yếu tố nào là chủ đạo?

3. Còn những tồn tại cốt lõi khác của đồ án Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050 là gì? Nguyên nhân?

4. Quy hoạch tác động sâu rộng đến mọi mặt đời sống chính trị, kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng; Những đồ án quan trọng như Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050, trong đó, với nội dung lựa chọn địa điểm cho Trung tâm Chính trị, có ảnh hưởng đến vận mệnh đất nước; Diện tích đất phải chuyển đổi mục đích sử dụng hàng trăm, hàng chục ngàn ha; gây xáo trộn, tác động đời sống hàng triệu người; số tiền phải chi phí rất lớn (từ 1 ~ 3 lần GDP của quốc gia); Tại sao Quốc hội (đại diện cho quyền làm chủ của nhân dân) lại có vai trò cho ý kiến "chỉ để tham khảo"?

5. Có thể có một Nghị quyết của Quốc hội về các đồ án quy hoạch quan trọng quốc gia (dành cho quy hoạch vùng, quy hoạch thủ đô, quy hoạch sử dụng đất quốc gia v.v - tương tự như Nghị quyết 66/2006/QH11 Về dự án, công trình quan trọng quốc gia trình Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư) được không? Bởi vì, khi các đồ án quy hoạch đã được phê duyệt, các dự án thành phần (dù lớn đến mấy, đương nhiên là hệ quả của quy hoạch) nếu có trình (việc đã rồi), thì Quốc hội có lẽ chỉ còn có quyền góp ý, và đồng ý - không lẽ còn cách khác?

Nguồn: Hà Thủy - TuanVietNam

Ngành thuế sẽ chấn chỉnh cách làm việc

Cán bộ thuế sẽ thôi làm khó người nộp thuế, lược bớt các thủ tục phiền hà…

Kết thúc tuần lễ Lắng nghe ý kiến người nộp thuế, ngày 29-5, Cục phó Cục Thuế TP.HCM Nguyễn Trọng Hạnh nhìn nhận: “Qua tuần lễ này, ngành thuế TP.HCM có dịp tự nhìn lại mình để phục vụ tốt hơn”.

Sẽ chấn chỉnh từ lề lối đến đạo đức cán bộ

. Phản ánh của dân và doanh nghiệp cho thấy ngành thuế TP.HCM thường trễ hẹn, nhiều viên chức thuế hách dịch, đòi hỏi nhiều giấy tờ ngoài quy định… Người dân mong ngành thuế sửa sai và Cục Thuế sẽ thể hiện trách nhiệm của mình ra sao, thưa ông?

+ Chúng tôi quan niệm hễ mình làm trật thì phải sửa chứ không giấu giếm. Riêng chuyện tiêu cực, nếu có thì dân cứ báo ngay cho lãnh đạo Cục Thuế TP, lãnh đạo chi cục. Chẳng hạn, ngay tại cuộc đối thoại ngày 28-5, đại diện một doanh nghiệp cho biết cán bộ Chi cục Thuế quận 12 lớn tiếng bắt doanh nghiệp này phải về nhà chép dữ liệu ra USB. Khi doanh nghiệp hỏi cần dữ liệu gì thì cán bộ thuế không giải thích. Không những nhắc nhở Chi cục Thuế quận 12 tại hội nghị, tôi còn mời người nộp thuế bị hành và lãnh đạo chi cục thuế ra bên ngoài, bảo cán bộ phải sửa ngay thái độ tiếp dân.

Trong tháng 6 này, chúng tôi sẽ tập hợp tất cả cán bộ làm công tác tuyên truyền trong ngành để tập huấn lại tư cách đạo đức, lề lối làm việc. Sau đợt tập huấn này, anh em phải có sự thay đổi. Nhưng nói đi cũng phải nói lại, hằng năm cơ quan thuế tiếp khoảng 20 triệu lượt người, khó tránh khỏi sơ suất. 100 vụ làm tốt thì không thấy ai nhắc tới nhưng hễ sơ sểnh một cái là báo chí nói ào ào. Như vậy là chưa công bằng và chưa ghi nhận những nỗ lực của anh em.

Tư vấn thuế tại Chi cục thuế quận 5, TP.HCM. Ảnh: HTD

Riêng những gì thuộc về chính sách thì ngoài tầm với của Cục Thuế TP.HCM. Chúng tôi chỉ có thể tập hợp ý kiến, kiến nghị lên Tổng Cục Thuế, Bộ Tài chính.

Bộ máy ngành thuế chưa tốt

. Tại cuộc đối thoại ngày 29-5, các câu hỏi tập trung ở mảng thuế thu nhập cá nhân trong khi sắc thuế này đã được áp dụng một năm rưỡi… Người nộp thuế chưa quen hay công tác tuyên truyền của ngành thuế TP.HCM chưa tốt?

+ Đúng là bộ máy tuyên truyền còn làm chưa tốt. Hễ nói đến tiền thuế là nói đến mối quan tâm, bức xúc, quyền lợi của hàng triệu tổ chức, cá nhân có liên quan nhưng ngành thuế TP.HCM chưa đáp ứng được hết những yêu cầu mà thực tế đề ra.

Trong triển khai Luật Thuế thu nhập cá nhân, công tác chuẩn bị, triển khai không được đầy đủ, không đúng mức. Nhưng sự cập rập này là khó tránh. Chúng ta bắt đầu xây dựng Luật Thuế thu nhập cá nhân vào năm 2007, lúc đó kinh tế đang phát triển nhưng thời điểm áp dụng (1-1-2009) lại không phù hợp vì lúc đó nền kinh tế nước ta đang chịu ảnh hưởng của sự suy thoái kinh tế thế giới. Nhà nước đã phải cho giảm thuế, giãn nộp thuế… Khi giảm, giãn, người nộp thuế được lợi nhưng chúng tôi bối rối trăm bề. Việc thay đổi chính sách khiến thủ tục hành chính thay đổi theo, các phần mềm ứng dụng không thể chạy được, không nhập được tờ khai thuế, không ra được dữ liệu… và hàng trăm chuyện khác mà cơ quan thuế địa phương phải ráng chòi đạp để khắc phục.

Sau tuần lễ này, chúng tôi sẽ tính toán, rà soát lại xem các chi cục thuế còn thiếu, còn yếu cái gì. Chẳng hạn, người dân đặt nhiều câu hỏi về thuế thu nhập cá nhân thì trước mắt chúng tôi sẽ điều động để tăng cường cán bộ công tác ở mảng này.

. Cục Thuế TP.HCM đã lên tiếng xin lỗi doanh nghiệp, như vậy có thể mong chờ một cuộc “lột xác” của ngành thuế?

+ Chúng tôi luôn nỗ lực phục vụ dân ngày một tốt hơn nhưng không thể ngày một ngày hai và cũng không thể tự làm một mình, cần phải có sự cộng hưởng từ phía người dân và doanh nghiệp. Doanh nghiệp cũng cần nhận thấy trách nhiệm xã hội của mình chứ hiện nay nhiều doanh nghiệp cứ đợi đến đúng ngày hết hạn mới đi nộp hồ sơ, rồi khai không đúng biểu mẫu khiến kẹt cứng, ai cũng phải chờ. Cán bộ không có thời gian hướng dẫn chu đáo…

. Xin cảm ơn ông.

Nguồn: ÁI PHƯƠNG - Pháp Luật TP

'Doanh nghiệp xăng dầu không thể 'cãi' lệnh Bộ'

Ông Nguyễn Tiến Thỏa, Cục trưởng Cục Quản lý giá, Bộ Tài chính (ảnh: Phạm Huyền)
Ông Nguyễn Tiến Thỏa, Cục trưởng Cục Quản lý giá, Bộ Tài chính đã trao đổi với PV. VietNamNet xung quanh câu chuyện quản lý giá xăng hiện nay.

Sẽ nhắc doanh nghiệp tính lại giá cơ sở

PV: Thưa ông, ông có ý kiến gì khi các doanh nghiệp (DN) kêu Bộ Tài chính “ép” DN giảm giá vô lý?

Đúng là, DN chưa đủ lợi nhuận định mức, nên họ không chủ động giảm giá, phản ứng căng thẳng với Bộ. Nhưng chúng tôi kiên quyết yêu cầu DN phải giảm giá cho người tiêu dùng (NTD).

Tâm lý NTD cần được coi trọng. Một thực tế là, khi thấy giá thế giới giảm, NTD muốn được giảm giá bán lẻ trong nước ngay. Nếu DN chần chừ, dân sẽ thắc mắc. Khi DN đã thu tiền của dân vào Quĩ bình ổn giá xăng dầu rồi thì những lúc giá thế giới giảm, DN phải trả lại cho NTD khoản ấy.

Trong lúc này, NTD cần được ưu tiên hơn. Ngoài ra, giảm giá nhưng bù lại, DN vẫn được tiếp tục hỗ trợ từ Quĩ, đảm bảo DN không lỗ. Nghĩa là Bộ vẫn nghĩ cho DN.

Chúng ta đang ưu tiên kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô. Đâu chỉ xăng dầu, các ngành than, xi măng, giấy, phân bón… nhấp nhổm muốn tăng giá nhưng Bộ cũng yêu cầu giữ giá mà họ đều phải chấp nhận.

PV: Theo Bộ Tài chính, DN tính sai giá cơ sở xăng dầu, ông có ý kiến thế nào về việc này?

- Tôi cũng không hiểu Petrolimex tính thế nào mà giá cơ sở lại cao thế! Sự sai lệch giá CIF của Petrolimex so với giá CIF của chúng tôi tính, có thể là do, khi đổi từ thùng sang số lượng lít, DN đã không nhân thêm tỷ lệ qui đổi từ nhiệt độ tiêu chuẩn sang nhiệt độ bình thường (0,9876).

Mô tả ảnh.
Quyền lợi của NTD cần được ưu tiên khi giá xăng thế giới giảm (ảnh: Phạm Huyền)

Ngoài ra, nhìn vào bảng giá cơ sở của Petrolimex, có hai yếu tố tôi cũng không nắm đượcl là chi phí bảo hiểm và vận chuyển xăng dầu từ cảng nước ngoài về cảng Việt Nam là bao nhiêu, cũng như, họ áp dụng tỷ giá nào?

Tuy nhiên, DN muốn tính thế nào thì tính, chúng tôi không lấy đó là căn cứ điều hành thị trường. Theo đúng công thức, các chuyên viên của Bộ tính giá cơ sở hàng ngày rất chặt chẽ, chính xác, thấy dư địa giảm giá được như vừa qua là yêu cầu DN giảm giá ngay.

PV: Vậy, DN tính sai giá, khiến NTD hiểu lầm thì Bộ xử lý thế nào?

- Chúng tôi sẽ nhắc DN xem xét lại những điểm sai lệch này để công bố cho chính xác. Tuy nhiên, công bố giá cơ sở hay không là quyền của DN. Theo qui định, chúng tôi khuyến khích chứ không bắt buộc DN.

Tôi cho rằng, khi Petrolimex đã công bố giá cơ sở như vậy thì các DN còn lại cũng nên công bố.

Sẽ điều chỉnh lại việc trích Quĩ bình ổn

PV: Thưa ông, tại sao vừa qua, Bộ Tài chính lại vẫn bắt trích tiếp Quĩ khi giá đang lỗ?

Tính tới thời điểm này, Quĩ bình ổn đã xả ra hơn 500 tỷ đồng. Số dư của Quĩ còn lại là hơn 1.500 tỷ đồng.

- Chúng ta phải tính cho tương lai lâu dài. Kinh tế thế giới đang phục hồi, nhu cầu năng lượng sẽ tăng cao hơn năm trước. Nhiều tổ chức quốc tế đã dự báo giá dầu vào giữa tháng 6 và mùa đông tới, giá xăng dầu sẽ chỉ tăng lên chứ không giảm.

Tín hiệu giá thế giới đi xuống vừa qua là đáng mừng, nhưng không lơ là được.

Việc tiếp tục trích Quĩ là để đảm bảo tiềm lực của Quĩ được duy trì, có đủ khả năng đối phó với giai đoạn giá xăng dầu có thể lên cao sau này. Nếu không còn nguồn lực này, để giá bán lẻ tăng thì NTD cũng sẽ thiệt.

PV: Tuy nhiên, DN tuyên bố không trích Quĩ bình ổn khi lỗ, ông có ý kiến gì về việc này?

- DN nói thế với báo chí, nhưng không dám nói thế với Bộ Tài chính! Theo Thông tư 234, dù lãi hay lỗ, DN vẫn phải trích Quĩ và đó là tiền của NTD. Trừ trường hợp, giá cơ sở tăng trên 12% sẽ ngừng hoặc giảm mức xả Quĩ.

Vì thế, khoản 300 đồng/lít đó đâu phải là của DN mà DN bảo không trích nữa? Ở đây là Nhà nước bắt buộc DN phải trích, nguyên tắc là thế.

Mô tả ảnh.
NTD luôn phải bỏ 300 đồng/lít xăng để trích Quĩ bình ổn (ảnh: Phạm Huyền)

Hàng tháng, Cục Tài chính DN của Bộ đều gửi thông báo, nêu rõ sản lượng tiêu thụ xăng dầu như vậy thì số tiền phải trích Quĩ là bao nhiêu? Cuối năm quyết toán, tôi cho là không có DN nào dám bảo là lỗ, không trích. Làm thế, DN sẽ bị pháp luật sờ gáy ngay.

PV: Nhiều DN kiến nghị phải khống chế qui mô của Quĩ bình ổn chứ không thể bắt NTD đóng Quĩ mãi được. Theo ông, ý kiến này liệu có thuyết phục?

- DN kiến nghị nên trích 2% doanh thu để làm Quĩ thay vì trích như hiện nay. Tôi cũng đồng tình là khi giá cả ổn định, Quĩ không thể lớn mãi mãi được.

Tuy nhiên, muốn tính được qui mô Quĩ bao nhiêu là đủ thì phải có thời gian thực tiễn kiểm chứng đã.

Đến nay, Quĩ bình ổn mới hoạt động được vài tháng, không thể nóng vội mà thay đổi ngay. Đợt sóng đầu, chúng ta đã mất hơn 500 tỷ đồng bù từ Quĩ rồi. Vậy đợt sóng sau, liệu chúng ta sẽ mất 1.000 tỷ đồng hay bao nhiêu thì không ai đoán trước được. Khi đó, liệu 2% doanh thu xăng dầu đã đủ đối phó chưa?

Phải để hết năm nay, trải qua 1-2 đợt sóng biến động giá tăng cao thì mới rút ra được kinh nghiệm.

Chúng tôi đã thống nhất hết năm nay, sẽ nghiên cứu lại cách thức trích Quĩ bình ổn.

(Theo VietNamNet)

Những mảng đời môi giới chứng khoán

Từng là đại gia chứng khoán nhưng phá sản vì đòn bẩy tài chính, bỏ vị trí kế toán trưởng với lương tính bằng "nghìn đô"... họ đến với nghề môi giới theo những cách rất khác nhau.

Cách đây vài năm, anh Tuấn là một đại gia chứng khoán đất Hà Thành đồng thời là chủ của một công ty địa ốc. Thời hoàng kim, chỉ tính tiền mặt để đầu tư chứng khoán, đại gia này có cả chục tỷ đồng. Cùng với cơn say cuồng của cổ phiếu, từ công ty chứng khoán "ruột", nhà đầu tư này chuyển sang giao dịch tại một công ty mới, cho phép dùng đòn bẩy tài chính với tỷ lệ lớn.

Thế nhưng, cùng với sự tụt dốc cực mạnh của thị trường năm 2008, đòn bẩy tài chính quá lớn làm anh không những mất sạch toàn bộ tài sản mà còn thêm nợ nần. Trong lúc khó khăn cực độ, nhà đầu tư thất thế này được chủ tịch hội đồng quản trị một công ty chứng khoán quen biết, mời về làm việc.

Vị chủ tịch này cho biết: “Tuấn biết rõ nhiều kỹ năng đầu tư chứng khoán hiệu quả nhưng cũng thấm thía những kinh nghiệm mất tiền trên thị trường chứng khoán. Vì thế, đây là người rất thích hợp để tư vấn cho các nhà đầu tư. Thêm vào đó, tôi cũng muốn tạo một cơ hội để cậu ấy có thể làm lại”.

Đồng ý trở thành nhân viên của công ty chứng khoán này, công việc của Tuấn chuyển từ đầu tư sang tư vấn cho những người đang ngày ngày ôm giấc mộng làm giàu nhanh chóng từ cổ phiếu.

Sự thăng trầm khó lường của giá cổ phiếu chính là nhân tố  tạo nên sức hấp dẫn của nghề môi giới Ảnh minh họa: Hoàng Hà
Sự thăng trầm khó lường của giá cổ phiếu chính là nhân tố tạo nên sức hấp dẫn của nghề môi giới Ảnh minh họa: Hoàng Hà

Với Hoàng, con đường đến với nghề môi giới chứng khoán bắt đầu từ… vợ. Đang làm kế toán trưởng tại một công ty nước ngoài, lương tháng tính bằng “nghìn đô” nhưng từ khi vợ chuyển sang làm chứng khoán Hoàng không còn thích nghề kế toán nữa.

Bước vào đầu tư chứng khoán cùng vợ, anh này dần dần bị cổ phiếu hớp hồn. Vợ Hoàng tâm sự: “Có thời điểm, xác của anh ấy vẫn là Kế toán trưởng nhưng hồn thì đã bỏ theo bảng điện tử tại công ty chứng khoán mất rồi”. Cho đến một ngày, Hoàng quyết định thôi việc, từ bỏ vị trí kế toán trưởng tại công ty nước ngoài để trở thành một nhà đầu tư chứng khoán tự do.

Đến giao dịch tại công ty chứng khoán vợ làm việc một thời gian, nhà đầu tư này được mời trở thành một nhà môi giới chứng khoán độc lập tại đây. Anh tâm sự: “Mình làm chứng khoán được tự do cực kỳ, lại rất sôi động, chẳng gò bò và buồn tẻ như khi làm kế toán. Sáng mình đến làm giao dịch, chiều có thể về chăm và chơi với con mà vẫn có thu nhập cao nếu nhanh nhạy và quyết định đúng thời điểm”.

Nhà môi giới độc lập này cũng nói thêm chứng khoán thăng trầm khó lường nên cũng không thể nói chắc được điều gì nhưng nó đem lại niềm cảm hứng rất lớn khi tham gia. “Hôm nay đang hào hứng vì mua được “con” (cổ phiếu) ngon, giá lên ầm ầm; vài hôm nữa cũng “con” đó làm mình khóc ròng vì thị trường tụt dốc. Nhưng chính điều đó tạo nên sức hấp dẫn của chứng khoán”, Hoàng tâm sự

Còn với Thông, một môi giới trẻ thì niêm đam mê chứng khoán lại là nguyên nhân quan trọng dẫn tới vụ chia tay với người yêu. Tốt nghiệp đại học năm 2009, Thông trở thành nhân viên môi giới chính thức của một công ty chứng khoán có trụ sở tại quận Hai Bà Trưng (Hà Nội). Trước đó, Thông từng làm nhân viên nhận lệnh - một công việc làm thêm khi đang là sinh viên ngành quản lý khách sạn của Đại học Thương mại.

Bước chân chính thức vào nghề này, Thông làm việc gần như quên thời gian. Sáng làm giao dịch, chiều đi gặp khách hàng hoặc tìm thêm mối mới, tối cũng luôn sẵn sàng đi hầu chuyện để “vợt” thêm giao dịch cả OTC lẫn chính thức của ngày hôm sau.

Cũng bởi làm việc từ sáng tới tối khuya, cuộc sống của Thông gắn chặt với bảng điện, với các mã OTC, với các tin tức kinh tế… còn cô bạn gái thời đại học gần như bị bỏ quên. Chỉ sau ít tháng đi làm, môi giới trẻ này được công ty cử vào Nam phát triển chi nhánh.

Chẳng được quan tâm chăm sóc, lại thêm việc Thông chuyển vào TP HCM làm việc, bạn gái kiên quyết đề nghị chia tay. Mặc dù rất buồn, Thông cuối cùng vẫn chọn con đường Nam tiến. “Mình còn trẻ vả thích thử thách. Cứ làm đã, rồi sau này bạn gái mình sẽ hiểu”, Thông tâm sự.

Sau hơn một năm làm việc, vừa môi giới, vừa tranh thủ đầu tư, Thông khoe đã để dành được vài chục triệu đồng từ chứng khoán. Số tiền này chẳng thấm vào đâu so với những giao dịch nhiều tỷ đồng mà ngày ngày cậu vẫn đặt lệnh cho khách hàng nhưng với Thông thì đó đã là một niềm vui lớn.

Nhật Minh – Hoàng Ly

* Tên nhân vật trong bài đã được thay đổi


(Theo VNEXPRESS)

Top 100 website: Facebook độc chiếm ngôi vương

Facebook được cư dân mạng truy cập nhiều nhất.

Facebook độc chiếm ngôi vương ở cả 2 tiêu chí: lượng người truy cập (unique visitor) và số lượt xem (pageview)
Theo xếp hạng 100 trang web hàng đầu thế giới do Google bình chọn và công bố, Facebook độc chiếm ngôi vương ở cả 2 tiêu chí: lượng người truy cập (unique visitor) và số lượt xem (pageview).

Tạp chí PC World dẫn báo cáo của Google cho hay, trong tháng 4/2010, Facebook có 540 triệu người truy cập, chiếm 35,2% tổng số người trung cập Internet. Về số lượt xem, Facebook có tới 570 tỉ lượt xem.

Mặc dù, danh sách này không bao gồm các thông số của những trang Youtube, Gmail, News hay Google search, nhưng lại mang tới một góc nhìn mới mẻ về các website hàng đầu không có quảng cáo.

Wikipedia (đứng thứ 4) và Mozilla (vị trí số 10) là hai trang web không có quảng cáo trong Top 10 website có lượng người truy cập nhiều nhất. Trang web không có quảng cáo tiếp theo là Twitter (xếp hạng 18) với 98 triệu người truy cập.


Top 10 website theo bình chọn của Google.

Các trang portal như Yahoo.com (xếp hạng 2), MSN.com (bậc 5), Sina.com.cn (xếp hạng 11) và 163.com (hạng 15) đứng khá cao trong danh sách này, có lẽ bởi nhiều người sử dụng những trang này như trang nhà.

Các công cụ tìm kiếm trực tuyến cũng giành một số vị trí dẫn đầu trong xếp hạng này (trừ trang tìm kiếm Google). Live.com (đứng thứ 2) với 370 triệu người truy cập mỗi tháng, Bing.com (thứ 13) với 110 triệu người truy cập, Ask.com (hạng 20) với 88 triệu người truy cập.

Danh sách của Google còn dành sự ưu ái cho các trang blog, với Blogspot xếp bậc 7 với 230 triệu người truy cập, và Wordpress.com đứng thứ 12 với 120 triệu người truy cập.

Trong top 100 có khá nhiều website tin tức, chẳng hạn như Cnet.com đứng thứ 35, BBC.co.uk xếp hạng 43, CNN.com xếp hạng 64, NYTimes.com xếp hạng 83.

(Theo Vneconomy)

Ngành xe đạp Việt Nam thoi thóp vì thuế chống bán phá giá

picture

Sau khi bị áp thuế chống bán phá giá, lượng xe đạp xuất khẩu sang thị trường EU của Việt Nam đã giảm mạnh.

Việc EU áp thuế chống bán phá giá đối với xe đạp xuất khẩu của Việt Nam từ 2005 đã khiến ngành này điêu đứng

Ngày 15/7 tới đây, thời hạn áp thuế chống bán phá giá của Liên minh châu Âu (EU) đối với xe đạp xuất khẩu của Việt Nam sẽ hết hiệu lực. Tuy nhiên, liệu Ủy ban Châu Âu (EC) có tiến hành rà soát cuối kỳ đối với mặt hàng này hay không, là điều chưa thể khẳng định.

Xuất khẩu sụt giảm nghiêm trọng

Ngày 14/7/2005, EU đã quyết định áp thuế chống bán phá giá đối với mặt hàng xe đạp có mã số HS 8712 00 10 (xe đạp đua), 8712 00 80 , 8712 00 30 (các loại khác) của Việt Nam xuất khẩu vào thị trường này với các mức thuế 15,8% (đối với riêng Công ty TNHH Always) và 34,5% được áp dụng cho tất cả các công ty khác.

Trong 5 năm bị áp mức thuế chống bán phá giá nêu trên, “lượng xe đạp Việt Nam xuất khẩu sang thị trường EU đã sụt giảm nghiêm trọng. Trước 2005, mỗi năm nước ta xuất khẩu vào thị trường này trên một triệu chiếc, đến năm 2009 con số này chỉ còn khoảng 21.400 chiếc”, ông Vũ Bá Phú, Phó cục trưởng Cục Quản lý Cạnh tranh (Bộ Công Thương) cho biết.

Khi chưa bị áp thuế, xe đạp xuất khẩu chiếm tới 80% sản lượng của toàn ngành, còn tiêu thụ trong nước chỉ khoảng 20%. Nhưng từ năm 2005 đến 2009, lượng xuất khẩu xe đạp của Việt Nam liên tục bị sụt giảm, với tỷ trọng lần lượt là 60%, 45%, 30%, 20% và 15%.

Đến năm 2007 và 2008, lượng xe đạp xuất khẩu của Việt Nam vào EU chỉ còn chiếm 0,61% và 0,40% tổng lượng nhập khẩu xe đạp của thị trường này. Đây là thị phần không đáng kể theo quy định của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và EU về chống bán phá giá.

“Cùng với sự sụt giảm nghiêm trọng về lượng xuất khẩu, giá trị xuất khẩu xe đạp của Việt Nam sang EU cũng liên tục giảm. Điển hình năm 2007, giá trị xuất khẩu của mặt hàng này đã giảm tới 95,3% so với năm trước”, ông Lê Sỹ Giảng, Phó ban xử lý chống bán phá giá, Cục Quản lý Cạnh tranh cho biết thêm.

Ông Châu Vĩnh Chí, đại diện Công ty Asama Yuh Jiun Int’l Việt Nam, cho hay trước 2005, mỗi năm công ty này xuất khẩu trên 200.000 chiếc xe đạp vào EU. Nhưng sang năm 2006, công ty đã không thể xuất khẩu được vì mức thuế quá cao.

Không có hợp đồng xuất khẩu, từ trên 1.200 nhân công, công ty buộc phải giảm xuống còn 560 người.

Tại Công ty Xe đạp High Ride, tình trạng cũng chẳng sáng sủa hơn khi 90% công nhân buộc phải nghỉ việc. Số còn lại chủ yếu làm gia công như sơn khung cho các doanh nghiệp xe đạp khác. Điều đáng nói là không chỉ các công ty trực tiếp xuất khẩu bị ảnh hưởng mà những đơn vị cung cấp phụ tùng, bao bì cũng lao đao từ quyết định này.

Cũng theo số liệu từ Bộ Công Thương, trong giai đoạn trước năm 2005, tổng số lao động toàn ngành sản xuất xe đạp của Việt Nam là 210 nghìn người, thì đến đầu năm 2010, con số này chỉ khoảng 5 nghìn lao động.

Như vậy, sau 5 năm bị áp thuế chống bán phá giá, ngành sản xuất xe đạp của Việt Nam gần như đã kiệt quệ, với hàng loạt doanh nghiệp đã và tiếp tục phải đối mặt với phá sản.

EC có tiếp tục rà soát?

Vào ngày 19/3, EU đã ra thông báo, mức thuế chống bán phá giá đối với xe đạp Việt Nam sẽ hết hạn vào ngày 15/7 tới. Nhưng mới đây, Hiệp hội Các nhà sản xuất xe đạp châu Âu (EMBA) đã gửi đơn yêu cầu rà soát cuối kỳ đối với mặt hàng này lên EC.

Theo ông Phú, việc EC xem xét để đưa ra quyết định có rà soát cuối kỳ hay không sẽ có ý nghĩa rất quan trọng đối với ngành sản xuất xe đạp của nước ta. Nếu EC bác bỏ đơn của EMBA thì thuế chống phá giá sẽ tự động chấm dứt vào ngày 15/7. Trong trường hợp EC tiến hành rà soát, mức thuế trên sẽ được duy trì tiếp trong 12 tháng, cho đến khi có kết quả rà soát.

Trước vấn đề này, Bộ Công Thương cho rằng, việc áp thuế chống bán phá giá đối với xe đạp Việt Nam là "hoàn toàn phi lý", bởi thị phần xe đạp Việt Nam xuất sang EU rất nhỏ nên không có khả năng gây ảnh hưởng đến ngành sản xuất xe đạp của EU.

Ông Lê Quốc Tạo, Chánh văn phòng Hiệp hội Ôtô - Xe máy - Xe đạp Việt Nam, phân tích: nói doanh nghiệp Việt bán phá giá xe đạp là không hợp lý vì Việt Nam chỉ có lợi thế về giá nhân công, còn các chi phí khác như nguyên, nhiên vật liệu đều theo giá thế giới, nên không thể bán xe đạp với giá quá thấp.

Trong khi đó, thời gian qua ngành công nghiệp sản xuất xe đạp của châu Âu vẫn giữ được sự tăng trưởng. Lợi nhuận từ mặt hàng này của các nhà sản xuất châu Âu đều tăng đáng kể.

Trên thực tế sự khó khăn của ngành sản xuất xe đạp châu Âu nói chung chỉ xuất phát từ sức cạnh tranh yếu tại một số nước châu Âu. Theo số liệu thống kê của Hiệp hội Đại diện ngành sản xuất xe đạp châu Âu (Colibi) và Hiệp hội Các nhà sản xuất linh kiện, phụ tùng xe hai bánh châu Âu (Coliped), trong năm 2008, chỉ riêng 6 nước như Ý, Đức, Hà Lan, Pháp… đã chiếm 70% sản lượng xe đạp của cả EU.

Mức giá trung bình của sản phẩm xe đạp cũng có sự chênh lệch đáng kể giữa các nước châu Âu. Trong năm 2008, giá bán xe đạp của Hà Lan bình quân là 688 Euro/chiếc. Trong khi ở Anh, mức giá này là 190 Euro/chiếc. Mức chênh lệch này cho thấy sự khác biệt trong chi phí sản xuất của các nước châu Âu là rất lớn. Điều đó đã dẫn đến xu hướng đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường nội khối.

(Theo Vneconomy)

Thuế bảo vệ môi trường: Nhiều đối tượng “lọt lưới”

Đại biểu Nguyễn Đình Quyền: Phải rà soát thật kỹ để tránh tình trạng thuế chồng thuế - Ảnh: Thế Dũng.

Đại biểu khi Quốc hội lo ngại khi để “lọt lưới” nhiều đối tượng chịu thuế tại dự án Luật Thuế bảo vệ môi trường
Vẫn để “lọt lưới” nhiều đối tượng chịu thuế, có thể dẫn đến thuế chồng thuế, thuế chồng phí…là ý kiến chung của nhiều đại biểu khi Quốc hội thảo luận về dự án Luật Thuế bảo vệ môi trường chiều 31/5.

Tại dự luật, 5 nhóm hàng hóa được Chính phủ đưa vào diện chịu thuế môi trường bao gồm: xăng dầu, than, môi chất làm lạnh chứa Hydro-clo-flo-cacrbon (dung dịch HCFC); túi nhựa xốp và thuốc bảo vệ thực vật thuộc nhóm hạn chế sử dụng.

Nhiều vị đại biểu đã chỉ ra ngay không ít loại hàng hóa khác cũng gây ô nhiễm môi trường khi sử dụng cần phải bổ sung vào đối tượng chịu thuế như: Máy tính, điện thoại, ắc quy, lốp xe, hóa chất tẩy rửa, sản xuất giấy, chế biến thực phẩm, phân bón hoá học…nhưng chưa có trong diện phải chịu thuế.

Theo đại biểu Chu Sơn Hà, thì đối tượng phải nộp thuế chưa đầy đủ, thiếu công bằng và đề nghị cứ là sản phẩm gây tác động tiêu cực đến môi trường thì phải thuộc diện chịu thuế. Ý kiến này được nhiều đại biểu đồng tình.

Bộ trưởng Phạm Khôi Nguyên phát biểu, mục tiêu thu thuế môi trường không phải vì tiền mà nhằm hạn chế hành vi gây ô nhiễm môi trường và dùng thuế khuyến khích sản xuất theo công nghệ xanh. “Danh mục đối tượng chịu thuế sẽ tiếp tục được cập nhật và bổ sung, còn trước mắt thì thế thôi”, Bộ trưởng nói.

Liên quan đến băn khoăn của đại biểu việc có tiếp tục duy trì hệ thống quy định về phí môi trường như hiện hành hay không, Bộ trưởng cho biết có loại vừa thu thuế vừa thu phí chứ không chỉ riêng một loại.

Tuy nhiên, đại biểu Nguyễn Đình Quyền cho rằng cách đặt vấn đề tại dự án luật vẫn còn lúng túng và có thể dẫn đến tính trạng thuế trùng thuế, phí trùng phí. Vì một sản phẩm có thể đã phải chịu rất nhiều loại thuế như thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu... nay lại thêm thuế bảo vệ môi trường.

Về căn cứ tính thuế, nhiều ý kiến cho rằng áp dụng thuế tuyệt đối là phương án tốt nhất vì đảm bảo sự chủ động cho người sử dụng trong việc tính toán giá thành sản phẩm và cũng như đối với việc thu ngân sách Nhà nước.

Theo phân tích của đại biểu Trần Văn thì từ năm 2012, thời điểm dự kiến luật sẽ có hiệu lực, mức thu thuế còn rất thấp. Nếu theo phương án trung bình, mức thu hàng năm chỉ vào khoảng 4 tỷ đồng đối với một số loại thuốc bảo vệ thực vật; 9 tỷ đồng đối với dung dịch tác nhân lạnh HCFC; 300 tỷ đồng đối với túi nhựa; 700 tỷ đồng đối với than và trên 34.766 tỷ đồng đối với xăng dầu.

Thuế bảo vệ môi trường đối với xăng dầu sẽ thay thế phí bảo vệ môi trường hiện hành. Do đó, nó cũng sẽ không tác động nhiều tới giá xăng dầu, đại biểu Trần Văn nói.

(Theo VNeconomy)

Lãi suất cơ bản tiếp tục giữ ở mức 8%/năm

picture

Kể từ ngày 1/6/2010, mức lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam sẽ là 8%/năm - Ảnh: Reuters.

Kể từ ngày 1/6/2010, mức lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam sẽ là 8%/năm

Ngày 31/5/2010, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành Quyết định số 1311/QĐ-NHNN về mức lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam.

Theo đó, kể từ ngày 1/6/2010, mức lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam sẽ là 8%/năm.

Quyết định này thay thế Quyết định số 1011/QĐ-NHNN ngày 27/4/2010 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về mức lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam.

Như vậy, mức lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam tiếp tục được giữ nguyên so với tháng trước đó.

Cùng ngày, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có Thông báo số 189/TB-NHNN về một số mức lãi suất bằng đồng Việt Nam của Ngân hàng Nhà nước.

Cụ thể: lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam; lãi suất tái cấp vốn của Ngân hàng Nhà nước đối với các tổ chức tín dụng; lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt trong thanh toán bù trừ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với các ngân hàng đều được áp dụng ở mức 8%/năm.

Riêng lãi suất tái chiết khấu của Ngân hàng Nhà nước đối với các tổ chức tín dụng được áp dụng ở mức 6%/năm.

(Theo Vneconomy)

Thứ Sáu, 28 tháng 5, 2010

Hướng dẫn bổ sung quyết toán thuế TNCN năm 2009

Thực hiện theo chỉ đạo của Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế hướng dẫn bổ sung quyết toán thuế TNCN năm 2009 như sau:

I. Các khoản thu nhập của cá nhân cư trú phải kê khai quyết toán thuế TNCN năm 2009:

1. Các khoản thu nhập từ tiền lương, tiền công trước ngày 01/01/2009 được trả vào 6 tháng cuối năm 2009.

2. Tiền thưởng tháng (từ tháng 7/2009 đến hết tháng 12/2009) hoặc tiền thưởng Quý III và Quý IV được trả trong 6 tháng cuối năm 2009.
Ví dụ: Tháng 12/2009 Công ty A có trả tiền thưởng Quý III cho cán bộ công nhân viên thì khoản tiền thưởng này phải cộng vào thu nhập để kê khai tính thuế.

II. Các khoản thu nhập của cá nhân cư trú không phải kê khai quyết toán thuế TNCN năm 2009:

1. Các khoản thu nhập từ tiền lương, tiền công.

1.1. Các khoản thu nhập trước ngày 01/01/2009 được trả trong 6 tháng đầu năm 2009.

1.2. Thu nhập từ tiền lương, tiền công của 6 tháng đầu năm 2009 (theo bảng thanh toán lương) mà tổ chức, cá nhân trả thu nhập trả cho người lao động trong 6 tháng cuối năm 2009.

1.3. Tiền thưởng 6 tháng đầu năm 2009. Trường hợp cá nhân không làm việc đủ các tháng trong 6 tháng đầu năm 2009 thì khoản tiền thưởng miễn thuế được xác định tương ứng với các tháng làm việc trong 6 tháng đầu năm.

2. Đối với thu nhập từ đầu tư vốn, chuyển nhượng vốn, chứng khoán phát sinh trước ngày 01/01/2009 và cả năm 2009 được trả trước ngày 01/7/2010.

Công văn có hướng dẫn về thủ tục quyết toán thuế TNCN; nơi nộp hồ sơ và thời hạn nộp hồ sơ quyết toán thuế TNCN; bù trừ, hoàn thuế TNCN

Tải văn bản tại đây:



(Theo Webketoan.vn)


Thứ Năm, 27 tháng 5, 2010

Phố Wall bùng nổ, Dow Jones vượt 10.250 điểm

Cổ phiếu của 10 ngành công nghiệp trong chỉ số S&P 500 đều tăng điểm - Ảnh: AP.

Chứng khoán Mỹ tăng từ 2,85-3,7% sau khi Trung Quốc khẳng định không có kế hoạch bán bớt các trái phiếu bằng đồng Euro
Ngày 27/5, chứng khoán Mỹ đã tăng từ 2,85-3,7% sau khi Trung Quốc khẳng định không có kế hoạch xem xét việc bán bớt các trái phiếu bằng đồng Euro.

Hôm thứ Năm, Bộ Lao động Mỹ cho biết, số người nộp đơn xin trợ cấp thất nghiệp lần đầu trong tuần kết thúc vào ngày 22/5/2010 đã giảm 14.000, xuống 460.000 người, từ mức 474.000 trong tuần trước đó. Theo số liệu của Bộ này, tính đến ngày 15/5/2010, số người đang nhận trợ cấp thất nghiệp lần đầu ở Mỹ là 4,61 triệu.

Chuyển qua diễn biến của thị trường chứng khoán, cả ba chỉ số chính của thị trường Mỹ đã mở cửa ngày giao dịch với mức tăng 2% sau khi Trung Quốc lên tiếng phủ nhận thông tin nước này có khả năng giảm tỷ trọng nắm giữ trái phiếu của châu Âu vì lo ngại khủng hoảng lan rộng, mà tờ “The Financial Times” loan tin một ngày trước đó.

Giới phân tích cho rằng, cũng chính vì thông tin của “The Financial Times” mà thị trường chứng khoán Mỹ đã sụt giảm vào cuối phiên ngày 26/5, đẩy Dow Jones mất mốc 10.000 điểm, bất chấp việc chỉ số này đã tăng khá mạnh từ đầu phiên.

Cổ phiếu khối tài chính, năng lượng và nguyên vật liệu cơ bản tăng mạnh dẫn dắt thị trường đi lên. Những cổ phiếu vốn bị bán tháo phiên trước đó đã được nhà đầu tư mạnh tay gom vào. 30/30 cổ phiếu trong chỉ số Dow Jones đồng loạt lên điểm, trong đó có 10 cổ phiếu tăng với biên độ trên 3% giá trị.

Cổ phiếu của Intel và Microsoft dẫn đầu biên độ tăng điểm trong số 30 cổ phiếu trong Dow Jones với biên độ trên 4,5%. Nhờ mức tăng mạnh này, giá trị vốn hóa thị trường của Microsoft lúc 11h10 (giờ địa phương) đạt 230 tỷ USD, cao hơn mức 228 tỷ USD của Apple, để vươn lên xếp vị trí thứ hai về giá trị vốn hóa thị trường tại Mỹ và giành lại vị trí dẫn đầu trong “làng” công nghệ thế giới.

Trong bối cảnh thị trường Mỹ có lúc tăng từ 2,2-2,9% - trong đó Dow Jones đã gần chạm ngưỡng 10.200 điểm - trong cuối phiên buổi sáng thì thị trường chứng khoán châu Âu cũng khép lại ngày giao dịch 27/5 với mức tăng trên 3% của thị trường Anh, Đức, Pháp.

Ám ảnh về một phiên đảo chiều mất điểm đã không xảy ra khi lực cầu luôn ở mức cao và giúp các chỉ số dao động trong biên độ tăng từ 1,8-3,3%. Mặc dù thị trường tăng điểm vững chắc nhưng khối lượng giao dịch trên sàn New York, American Stock Exchange và Nasdaq phiên này chỉ đạt 9,88 tỷ cổ phiếu, giảm 20,5% so với phiên liền trước.

Nguyên nhân của hiện tượng này là việc bên bán tiết cung còn bên mua thì chưa sẵn lòng mua bằng mọi giá. Tuy nhiên, đến cuối ngày giao dịch, khối lượng cũng đã cải thiện hơn khi bên mua chấp nhận giá cao hơn khi tăng mạnh gom vào, giúp các chỉ số tăng mạnh và đóng cửa ở mức cao nhất trong ngày giao dịch. Xét về yếu tố kỹ thuật thì đây là tín hiệu tích cực.

Sau phiên tăng điểm này, chỉ số S&P 500 đã vượt qua được ngưỡng kháng cự 1.090 điểm, đồng thời chỉ báo kỹ thuật cho thấy chỉ số này đã nằm trên đường trung bình động 200 ngày.

Đối với chỉ số Dow Jones, phiên tăng điểm này hết sức ý nghĩa, nó không những giúp chỉ số này vượt lên ngưỡng 10.000 điểm để tiến sát ngưỡng 10.260 điểm mà quan trọng hơn, nó giúp tâm lý nhà đầu tư ổn định trở lại sau khi lần đầu tiên kể từ tháng 2/2010 xuống dưới ngưỡng 10.000 điểm trong phiên giao dịch liền trước.

Cổ phiếu của 10 ngành công nghiệp trong chỉ số S&P 500 đều tăng điểm với biên độ trên 1%, trong đó mức tăng mạnh nhất thuộc về cổ phiếu khối năng lượng, công nghệ, tài chính…

Phiên này, 29/30 cổ phiếu trong chỉ số Dow Jones tăng điểm mạnh, trong đó có tới 15 cổ phiếu tăng trên 3%. Cổ phiếu Intel, Alcoa, American Express dẫn đầu biên độ tăng điểm khi tăng trên 5%.

Điểm đáng chú ý là đà tăng của cổ phiếu Microsoft đã suy giảm so với phiên buổi sáng trong khi cổ phiếu của Apple lại tăng mạnh. Kết quả là Apple (230,53 tỷ USD) lại một lần nữa vượt Microsoft (227,86 tỷ USD) để trở thành hãng công nghệ lớn nhất thế giới và có vốn hóa lớn thứ hai trên sàn chứng khoán Mỹ (sau Exxon Mobil).

Biểu đồ diễn biến của thị trường chứng khoán Mỹ ngày 27/5 - Nguồn: G.Finance.

Điểm qua kết quả giao dịch ngày 27/5: chỉ số Dow Jones tăng 284,54 điểm, tương đương 2,85%, chốt ở mức 10.258,99. Chỉ số Nasdaq lên 81,8 điểm, tương ứng 3,73%, chốt ở mức 2.277,68. Chỉ số S&P 500 tiến thêm 35,11 điểm, tương đương 3,29%, chốt ở mức 1.103,06.

Thị trường Chỉ số Phiên trước Đóng cửa Tăng/giảm (điểm) Tăng/giảm (%)
MỹDow Jones9,974.4510.258,99Up284,54Up2,85
Nasdaq2,195.882.277,68Up 81,80Up3,73
S&P 5001,067.951.103,06Up 35,11Up3,29
AnhFTSE 1005,038.085.195,17Up157,09Up3,12
ĐứcDAX5,758.025.937,14Up179,12Up3,11
PhápCAC 403,408.593.525,31Up116,72Up3,42
Đài LoanTaiwan Weighted7.167,357.243,16Up 75,81Up1,06
Nhật BảnNikkei 2259.522,669.639,72Up117,06Up1,23
Hồng KôngHang Seng19.196,4519.431,37Up234,92Up1,22
Hàn QuốcKOSPI Composite1.582,121.607,50Up 25,38Up1,60
SingaporeStraits Times2.696,022.739,70Up 43,68Up1,62
Trung QuốcShanghai Composite2.625,792.655,92Up 30,12Up1,15
Ấn ĐộBSE16.387,8416.666,40Up278,56Up1,70
AustraliaASX4.330,404.399,10Up 68,70Up1,59
Việt NamVN-Index 492,69 497,16Up 4,47 Up0,91
Nguồn: CNBC, Thomson Reuters,

(Theo Vneconomy)