Lý thuyết kế toán thực chứng là cần thiết khi giới kế toán thấy thất vọng đối với lý thuyết kế toán chuẩn tắc, lý thuyết chỉ hướng tới các quy định nhằm trả lời câu hỏi “người lập báo cáo tài chính phải làm gì?” mà không lý giải được “tại sao họ làm như vậy?” hay “trong thực tế kế toán làm như thế nào?”.
Watts và Zimmerman (1978) cho rằng các quy định kế toán (chuẩn tắc) rất không thực tiễn bởi vì nó tâp trung vào miêu tả các quy định thay vì xem xét các quy định kế toán được áp dụng trong thực tế có phù hợp và đạt hiểu quả kinh tế để từ đó đưa ra các điều chỉnh cần thiết. Watt và Zimmerman (1978, 1979, 1980) chỉ ra rằng kế toán thực chứng nhằm phát triển các giả thuyết để giải thích cho các sự vật hiện tượng mà chúng ta chưa nhận biết được. Do vậy, lý thuyết kế toán thực chứng có thể giúp các nhà tạo lập chính sách đưa ra các chính sách kế toán mới cho các giao dịch kinh tế mới phát sinh.
Giáo sư Christenson (Harvard) (1983) cho rằng kế toán chuẩn tắc xa dời với diễn biến của thị trường (off-the-mark). Ông cũng cho rằng nhiều khi các quy định kế toán không quan tâm đến phản ứng của thị trường và không cần biết tính kinh tế khi đưa ra áp dụng các quy định kế toán mới.
Điều này dường như đang diễn ra tại Việt
Thông tư 201/2009/TT-BTC hướng dẫn xử lý chênh lệch tỷ giá chưa thực hiện tại Việt
Thông tư 244/2009/TT-BTC sửa đổi và bổ sung chế độ kế toán doanh nghiệp. Thông tư 244 cho phép ghi nhận chênh lệch đánh giá lại tăng tài sản khi góp vốn vào thu nhập trong kỳ. Điều này có thể chưa phù hợp với chuẩn mực kế toán, đặc biệt chưa phù hợp với nguyên tắc thận trọng ghi cho phép ghi nhận thu nhập chưa thực hiện do đánh giá lại tài sản.
Hiện tại chưa có bất kỳ nghiên cứu về tác động trong thực tế của các quy định kế toán trên đối với nền kinh tế và thị trường vốn được công bố. Người viết đề xuất rằng một nghiên cứu thực nghiệm tác động trong thực tiễn sẽ là cơ sở tốt nhất cho những nhà hoạch định chính sách trong việc đưa ra các chính sách kế toán và tài chính mới hoặc sửa đổi và hoàn thiện các chính sách hiện hành.
Hi vọng rằng sự phát triển của nghiên cứu kế toán thực chứng, cho dù mới bắt đầu, sẽ là một tiền đề quan trọng trong sự phát triển của kế toán Việt Nam, hướng tới một hệ thống kế toán ngày càng hoàn thiện hơn. ./.
Phan Lê Thành Long (2010)
Tài liệu tham khảo
Ball, R & Brown, P (1968), “An Empirical Evaluation Of Accounting Income Number”, Journal of Accounting Research, Vol.6, No.2, Autumn, pp.159-178
Beaver, W, (1968), “The Information Content Of Annual Earnings Announcement”, Journal of Accounting Research, Supplement, pp.67-92
Christenson, C (1983), “Methodology of Positive Accounting Theory”, The Accounting Review, Vol, LVIII, No.1, Jan
Dechow, P & Dichev, I, (2002), The Quality of Accruals and Earnings: The Role of Accrual Estimation Errors, The Accounting Review, Vol.77, pp. 35-59
Friedman, M (1953), “Chapter 9: The Methodology of Positive Economics” in “Essay in Positive Economics”,
Godfrey, J., Hodgson, A., Holmes, S. & Tarca, A. (2006). Accounting Theory (6th edn). Wiley
Kiemtoan.com.vn (2010), “Sau kiểm toán, lợi nhuận của VCG giảm gần 257 tỷ đồng”
Trần Phú Minh, (2010), “Lập lời lãi lỗ trên sàn”, Người Lao Động.
Thông tư 201/2009/TT-BTC và Thông tư 244/2009/TT-BTC
Sloan, R (1996), “Do Stock Prices Fully Reflect Information in Accruals and Cash Flows about Future Earnings?”, The Accounting Review, Vol.71, No.3, Jul
(Theo Kiemtoan.com.vn)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét