|
Ai lỗ nặng nhất và tại sao lỗ? Bí quyết của những doanh nghiệp đạt lãi cao nhất nằm ở đâu? LÃI TỪ ĐÂU ĐẾN? Năm 2009, các doanh nghiệp đạt lợi nhuận đột biến đều là những doanh nghiệp được hưởng lợi từ gói kích thích kinh tế của Chính phủ. Chẳng hạn, chính sách hỗ trợ lãi suất đã giúp Cao su Đà Nẵng (DRC) giảm 21,1 tỉ đồng chi phí lãi vay. Hay gói kích thích kinh tế đã giúp thị trường xây dựng ấm lên, khiến sản lượng của Thép Việt Ý (VIS) tăng 37% so với kế hoạch, góp phần đưa doanh thu tăng 19,7% so với năm 2008. Những ưu đãi về thuế như giảm 50% thuế giá trị gia tăng, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, điều chỉnh thuế nhập khẩu theo hướng có lợi cho doanh nghiệp Việt Nam cũng là cơ sở cho mức lợi nhuận khả quan của các doanh nghiệp niêm yết. Một nguyên nhân quan trọng khác là các doanh nghiệp đã biết tận dụng thời cơ từ biến động giá nguyên liệu. Chẳng hạn, cuối năm 2008, giá thép liên tục giảm khiến Tập đoàn Hoa Sen (HSG), VIS, Công ty Cổ phần Sản xuất và Kinh doanh Kim khí (KKC) lao đao. HSG đã phải giảm 80% chi phí marketing, quảng cáo; 100% chi phí mua sắm thiết bị… để giảm gánh nặng chi phí. Tuy nhiên, khi giá thép tăng trở lại (từ 1.813 USD/tấn vào đầu năm 2009 lên 2.900 USD/tấn vào cuối năm), chính HSG, VIS và KKC đã được lợi nhờ tận dụng được nguyên liệu tồn kho giá rẻ để sản xuất và bán ra. Tình trạng này cũng diễn ra tương tự ở các doanh nghiệp ngành cao su (DRC), ngành nhựa (Tân Đại Hưng - TPC)… Các khoản hoàn nhập dự phòng, chênh lệch tỉ giá cũng góp phần mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp. Sang năm 2010, khi các yếu tố thuận lợi nói trên không còn, nhiều doanh nghiệp cũng đã thận trọng hơn khi đặt mục tiêu lợi nhuận. Chỉ tiêu lợi nhuận năm 2010 của DRC chỉ là 180 tỉ đồng, giảm 54% so với lợi nhuận thực hiện năm 2009, của VIS là 80 tỉ đồng, giảm 69%. LỖ ƠI, VÌ SAO? Điểm chung của các doanh nghiệp thua lỗ năm 2009 là kinh doanh trong những ngành nghề gặp khó. Chẳng hạn, Công ty Đầu tư và Vận tải Dầu khí Vinashin - Shinpetrol (VSP), Công ty Hàng hải Hà Nội (MHC), Hàng hải Sài Gòn (SHC) đều hoạt động trong ngành vận tải biển, vốn bị ảnh hưởng nặng từ khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Giá cước vận tải biển giảm mạnh (trên 60%) và sự sụt giảm nhu cầu vận chuyển hàng hóa giữa các nước đã khiến nhiều doanh nghiệp vận tải biển lao đao. Các doanh nghiệp đầu tư nâng trọng tải đội tàu như VSP thì càng khó khăn gấp bội, vì phải chịu thêm gánh nặng lãi vay và lỗ chênh lệch tỉ giá. Trong năm 2009, không bị lỗ đã được xem là một cố gắng lớn đối với doanh nghiệp vận tải biển. Đối với doanh nghiệp ngành thủy sản (như Thủy sản Nam Việt - ANV, Xuất nhập khẩu Thủy sản Bến Tre - FBT), khó khăn chủ yếu là thiếu nguyên liệu và giá xuất khẩu chưa phục hồi. Các rào cản thương mại và rào cản kỹ thuật từ các thị trường truyền thống (như Mỹ, Nga), việc khách hàng hủy ngang hợp đồng hoặc không thanh toán đúng hạn cũng là những rủi ro mà các doanh nghiệp này phải đối mặt. Tuy nhiên, trong khi một số doanh nghiệp như Công ty Cổ phần Hùng Vương (HVG), Thủy hải sản Minh Phú (MPC), Thủy sản Bến Tre (ABT)… có thể cầm cự, chờ cơ hội thì ANV, FBT lại không thể vượt qua do đã gặp khó khăn từ trước. Các khoản phải thu của ANV từ cuối năm 2008 đã ở mức cao nhất trong vòng 3 năm; lượng hàng tồn kho (chủ yếu là thành phẩm) cũng tăng 3,4 lần so với cuối năm 2007. Kết quả là trong quý I/2009 ANV đã không tránh được mức lỗ 61,7 tỉ đồng. Những doanh nghiệp gặp khó khăn từ năm 2008 cũng là những doanh nghiệp lỗ trầm trọng nhất trong năm 2009 (VSP, FPC, TRI… đều lỗ liên tiếp trong nhiều quý). Riêng TRI còn cho biết sẽ tiếp tục lỗ 57 tỉ đồng trong năm 2010. Thực tế, các doanh nghiệp này đều có vướng mắc trong việc kiểm soát chi phí. Chẳng hạn, năm 2009 chi phí bán hàng của TRI tăng 21 tỉ đồng, trong khi doanh thu lại giảm 8,2 tỉ đồng. Nhiều doanh nghiệp còn có giá vốn hàng bán cao hơn doanh thu (giá vốn hàng bán của FPC là 396 tỉ đồng, trong khi doanh thu chỉ đạt 251,4 tỉ đồng). Tình trạng lỗ còn do các khoản trích lập dự phòng. Điển hình, trong mức lỗ 286,7 tỉ đồng của Công ty Cổ phần Full Power (FPC) có đến 215 tỉ đồng từ trích lập dự phòng nợ khó đòi, dự phòng tổn thất công trình dang dở. Rõ ràng, trong năm 2009, có rất nhiều yếu tố khách quan tác động đến sự lời lỗ của các doanh nghiệp niêm yết. Tuy nhiên, tại sao trong gần 500 doanh nghiệp niêm yết và trong cùng ngành nghề, có lợi thế như nhau, lại chỉ có một số doanh nghiệp lãi lớn? Tại sao cũng với những khó khăn tương tự vẫn có những doanh nghiệp đạt lợi nhuận ngoạn mục? Câu trả lời có lẽ phụ thuộc không nhỏ vào năng lực điều hành của các ông chủ doanh nghiệp. 10 CÔNG TY TĂNG TRƯỞNG LỢI NHUẬN CAO NHẤT
DRC (CAO SU ĐÀ NẴNG) Là doanh nghiệp sản xuất lốp xe hạng nặng, chiếm thị phần cao nhất ở dòng lốp ôtô (35%) và thứ hai trong thị trường sản xuất lốp xe nói chung, lợi nhuận của DRC trong năm 2009 là 393,2 tỉ đồng, gấp 10 lần kế hoạch. Thành công này là nhờ DRC được vay vốn hỗ trợ lãi suất của gói kích thích kinh tế và ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp, cộng với thương hiệu tốt nên tình hình tiêu thụ sản phẩm rất khả quan, tồn kho ít. Chẳng hạn, lốp xe đạp DRC tiêu thụ được 4,7 triệu lốp, tương đương hơn 95% sản lượng; lốp xe máy tiêu thụ được 800.000 sản phẩm, trong tổng số 1 triệu sản phẩm được làm ra. Tuy nhiên, những thuận lợi về ưu đãi lãi suất, thuế thu nhập doanh nghiệp, giá nguyên vật liệu rẻ... sẽ không thể duy trì trong những năm tới, do đó, lợi nhuận của DRC sẽ khó có đột biến như năm 2009. VIS (THÉP VIỆT - Ý) VIS là doanh nghiệp sản xuất thép thuộc Tổng Công ty Sông Đà, có mạng lưới phân phối rộng. Năm 2009, VIS đạt 225,4 tỉ đồng lợi nhuận sau thuế, tăng hơn 9 lần so với kế hoạch. Nhờ các gói kích thích kinh tế của Chính phủ khiến thị trường xây dựng sôi động trở lại, sản lượng của VIS trong năm qua tăng 37% so với kế hoạch. Ngoài ra, năm 2009, VIS đã đưa trạm khí hóa than vào hoạt động, chuyển đổi công nghệ từ lò đốt bằng dầu FO sang bằng khí than, mang lại hiệu quả kinh tế rất lớn. Các doanh nghiệp ngành thép dường như may mắn khi khép lại năm 2009 thép là một trong số ít ngành công nghiệp nặng có tốc độ tăng trưởng hai con số. HSG (TẬP ĐOÀN HOA SEN) Kết thúc năm tài chính 2009, HSG đứng đầu cả nước về thị phần tôn mạ. Trước tác động của khủng hoảng kinh tế, HSG vẫn duy trì mức lợi nhuận tương đối ổn định, quy mô được mở rộng với Nhà máy Tôn Hoa Sen Phú Mỹ có công suất lớn gấp 3 lần công suất trước đó. HSG cũng bắt đầu bước vào những lĩnh vực mới như bất động sản và cảng biển. Thành công của HSG một phần là do biết nắm bắt cơ hội. Khi giá thép rớt xuống mức thấp nhất vào giữa năm 2009 và tăng nhẹ vào cuối năm, HSG đã tranh thủ cơ hội mua nguyên liệu giá rẻ. Do đó, lợi nhuận biên trong 2 quý cuối niên độ được cải thiện rất đáng kể. Cuối năm 2009, khi giá thép vẫn còn thấp, HSG đã mua một lượng lớn nguyên liệu giá thấp, gia tăng hiệu quả sản xuất. NTL (PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ TỪ LIÊM) NTL hoạt động trên 3 lĩnh vực là kinh doanh bất động sản, xây lắp công trình, tư vấn thiết kế. Hoạt động kinh doanh bất động sản chiếm tỉ trọng doanh thu lớn nhất, khoảng 77%, với tỉ suất lợi nhuận gộp lên đến 53%, trong khi hoạt động xây lắp chiếm 22% tổng doanh thu, nhưng tỉ suất lợi nhuận gộp chỉ khoảng 5,5%. Đa số dự án của NTL có địa điểm tốt nên việc bán hàng và thu tiền trước của khách hàng (50% giá bán) rất thuận lợi. Khác với nhiều công ty bất động sản khác, NTL không có khoản nợ dài hạn nào và vay ngắn hạn năm qua chỉ khoảng vài tỉ đồng. Công ty này cũng hầu như không phải chịu chi phí lãi vay, do có thể chiếm dụng vốn từ khoản trả trước của khách hàng. Dự án đem lại lợi nhuận cao cho NTL năm 2009 là dự án căn hộ Trạm Trôi, Dịch Vọng, đem lại 96% lợi nhuận. Năm 2010, nhiều chủ đầu tư các dự án bất động sản ở khu vực này đã tung sản phẩm ra thị trường nên áp lực cạnh tranh sẽ tăng. Tuy nhiên, NTL vẫn đặt kế hoạch doanh thu và lợi nhuận tương đương năm 2009. VIC (VINCOM) Mức tăng doanh thu và lợi nhuận sau thuế của Vincom năm 2009 chủ yếu là từ doanh thu bán căn hộ và cho thuê văn phòng của Vincom Galleries Tower (thuộc khu phức hợp Vincom City Towers, Hà Nội), tiền cho thuê trung tâm thương mại và thu nhập của các công ty con. Quý III/2009, VIC tăng vốn điều lệ từ 1.199 tỉ đồng lên 1.996 tỉ đồng để đầu tư vào các dự án lớn như Royal City và dự án Eden (TP.HCM). Do đang tập trung xây dựng ở TP.HCM với tổng giá trị lên tới 2.800 tỉ đồng, doanh thu từ Vincom Galleries Tower được dự báo sẽ tiếp tục góp phần đáng kể vào dòng tiền của VIC trong năm 2010. Tuy nhiên, VIC sử dụng đòn bẩy tài chính cao với tổng nợ gấp 5,12 lần vốn chủ sở hữu, giá trị trái phiếu phát hành trên 8.115 tỉ đồng, gấp 3,84 lần tổng nguồn vốn. Điều này có thể phát sinh rủi ro cho công ty này nếu thị trường bất động sản bị đóng băng. TPC (NHỰA TÂN ĐẠI HƯNG) Cổ phiếu TPC được đưa ra khỏi diện cảnh báo của Sở Giao dịch Chứng khoán TP.HCM kể từ ngày 26.3.2010, nhờ đã khắc phục được tình trạng lỗ của năm 2008. Năm 2009, giá nguyên liệu đầu vào đã ổn định, nhu cầu thị trường bắt đầu phục hồi; số dư khoản mục đầu tư tài chính (đầu tư cổ phiếu) của TPC năm 2009 chỉ còn khoảng 10,5 tỉ đồng và với diễn biến của thị trường chứng khoán năm 2009 thì TPC đã được lợi. Đặc biệt, việc hoàn nhập dự phòng giảm giá chứng khoán đã đem lại cho TPC một khoản lợi nhuận đáng kể, chiếm 47 tỉ đồng trong tổng lợi nhuận trước thuế 62,9 tỉ đồng của TPC. KKC (CÔNG TY CỐ PHẦN SẢN XUẤT VÀ KINH DOANH KIM KHÍ) Mặc dù doanh thu năm 2009 của KKC chỉ đạt 480 tỉ đồng (tương đương 87,34% kế hoạch), nhưng lợi nhuận sau thuế lại cao gấp 28 lần năm 2008, tương đương 456,75% kế hoạch lợi nhuận cả năm (5,2 tỉ đồng). Đó là do công ty đã tận dụng lợi thế giá thép tăng để bán ra thu lợi. Ngoài ra, các khoản hoàn nhập dự phòng giảm giá hàng tồn kho, chuyển nhượng vốn góp tại Công ty Cổ phần Thép Đình Vũ cũng góp phần quan trọng vào cơ cấu lợi nhuận. Năm 2010, dự báo ngành thép sẽ đối diện với nhiều khó khăn. Do đó, KKC chỉ đặt mục tiêu khiêm tốn với doanh thu 480 tỉ đồng, lợi nhuận trước thuế 15 tỉ đồng. DXP (CẢNG ĐOẠN XÁ) Nhờ lượng hàng container đông lạnh quá cảnh qua cảng Hải Phòng tăng đột biến mà năm 2009 DXP đã đạt kết quả kinh doanh ấn tượng. Đà phục hồi của kinh tế Việt Nam và thế giới cũng khiến hàng giao thương qua cảng tăng, giá cước vận tải và phí dịch vụ xếp dỡ hàng hóa tăng trở lại. DXP cũng được hưởng ưu đãi về thuế, thuế DXP nộp năm 2009 chỉ 7%. Năm 2010, với việc thuê bãi container mới tại đập Đình Vũ (Hải Phòng) và đưa vào vận hành tàu lai dắt 1.200 CV (lai dắt các tàu thuyền và phương tiện nổi trên cảng biển), hoạt động kinh doanh kho bãi của DXP được dự báo sẽ cải thiện hơn. Tuy nhiên, theo phân tích của Công ty Chứng khoán Vietcombank, năm 2010 DXP khó có thể kỳ vọng vào mức tăng trưởng cao như năm 2009, do quy mô Công ty nhỏ và đã vận hành gần như hết công suất trong năm qua. SSI (CÔNG TY CHỨNG KHOÁN SÀI GÒN) Góp phần đáng kể vào lợi nhuận của SSI là các mảng môi giới, quản lý danh mục đầu tư, tư vấn. Năm 2009, công ty chứng khoán này đạt doanh thu 1.121,5 tỉ đồng, lợi nhuận sau thuế đạt 804,1 tỉ đồng, gấp 4 lần so với kế hoạch. Kết quả kinh doanh lạc quan này một phần là nhờ sự khởi sắc trở lại của thị trường chứng khoán. SSI cũng dẫn đầu về thị phần tư vấn tài chính. Ở mảng đầu tư, SSI đầu tư cả ngắn hạn lẫn dài hạn, nhưng năm 2009 mảng đầu tư tài chính ngắn hạn tăng mạnh hơn (tăng 1,5 lần so với năm 2008). SSM (CHẾ TẠO KẾT CẤU THÉP VNECO.SSM) Năm 2009, SSM không có nợ dài hạn, chỉ có nợ ngắn hạn 28,6 tỉ đồng, phần còn lại là các khoản ứng trước của khách hàng. Và trong khi có rất nhiều đối thủ mạnh như Hyundai Đông Anh, Công ty Xây lắp điện 1, Công ty Cơ khí 120, Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Thương mại Việt Á, Công ty Cổ phần Cơ điện Miền Trung, SSM vẫn liên tục có đơn hàng lớn, góp phần đem về lợi nhuận cao năm 2009: 33,3 tỉ đồng, gấp 3,17 lần so với năm 2008. Đó là nhờ SSM sở hữu dây chuyền mạ kẽm nhúng nóng tiên tiến của Đức. SSM đặt chỉ tiêu doanh thu hàng năm tăng 10% (do nhu cầu xây dựng luôn tăng tối thiểu 17%/năm). 10 CÔNG TY LỖ NẶNG NHẤT
VSP (ĐẦU TƯ VÀ VẬN TẢI DẦU KHÍ VINASHIN - SHINPETROL) Cổ phiếu VSP đã bị Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX) đưa vào diện cảnh báo kể từ ngày 29.3.2010. Năm 2009, lợi nhuận sau thuế của VSP âm 359,59 tỉ đồng, trong khi năm 2008 công ty này lãi 297,49 tỉ đồng. Lợi nhuận của VSP giảm chủ yếu do sự thua lỗ của các công ty con, đặc biệt là Công ty Trách nhiệm Hữu hạn một thành viên Vận tải biển Nam Việt (VTB Nam Việt), lỗ 332,287 tỉ đồng do cước vận tải quốc tế giảm sâu (hơn 60% so với cùng kỳ năm 2008). Việc đội tàu của VSP (do Nam Việt quản lý) đến thời hạn bảo dưỡng kỹ thuật theo quy định hàng hải quốc tế trong năm qua cũng làm tăng đáng kể chi phí hoạt động. Ngoài ra, VSP còn chịu khoản chi phí chênh lệch tỉ giá đối với khoản tiền vay và công nợ ngoại tệ lên tới hơn 30 tỉ đồng. FPC (FULL POWER) Sau TRI (Tribeco), FPC (mã cổ phiếu của Full Power, công ty xây dựng 100% vốn Đài Loan), trở thành cổ phiếu thứ hai trên sàn HoSE bị đưa vào diện kiểm soát và hạn chế thời gian giao dịch từ đầu năm 2010 đến nay, chỉ được phép giao dịch 15 phút trong đợt khớp lệnh định kỳ xác định giá đóng cửa trong mỗi ngày giao dịch. Quý IV/2009, doanh thu thuần của FPC chỉ đạt 9,1 tỉ đồng nhưng giá vốn hàng bán lên đến 268,4 tỉ đồng, dẫn đến lợi nhuận gộp trong quý IV âm 259,3 tỉ đồng. FPC thua lỗ là do thi công ít công trình, trong khi chi phí quản lý lớn. Thêm vào đó, các khoản chi phí gắn với các công trình không còn có khả năng thu hồi và chi phí cho các công trình đã ngừng thi công còn làm lỗ thêm 34,79 tỉ đồng. ANV (THỦY SẢN NAM VIỆT) Năm 2009, lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh của ANV bị âm 178,5 tỉ đồng, trong khi năm 2008 đã lãi 110 tỉ đồng. ANV không tránh khỏi khó khăn chung của ngành thủy sản: thiếu nguyên liệu chế biến để xuất khẩu và giá cả chưa phục hồi. Ngoài ra, thị trường Nga, thị trường xuất khẩu chủ lực của ANV, có nhiều biến động từ quý III/2008, tiêu biểu là rào cản về yêu cầu kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm. Các nhà nhập khẩu thủy sản Nga cũng không còn được hỗ trợ tín dụng để nhập hàng nên liên tục trì hoãn thanh toán các đơn hàng đã ký. Việc đồng rúp bị phá giá so với các ngoại tệ mạnh như USD, euro cũng khiến các doanh nghiệp xuất khẩu sang Nga gặp nhiều khó khăn. FBT (XUẤT NHẬP KHẨU LÂM - THỦY SẢN BẾN TRE) Trong quý IV/2009, lượng hàng xuất khẩu sang thị trường Liên minh châu Âu (EU) và Nga giảm do khách hàng đã mua đủ hàng dự trữ cho dịp Giáng sinh và Tết Dương lịch từ các quý trước; các mặt hàng như cá hồi, cá tuyết… trúng mùa nên giá bán rất thấp, cộng thêm những rào cản thương mại, kỹ thuật ở các thị trường nhập khẩu đã ảnh hưởng đến tình hình xuất khẩu của FBT. Để tránh phụ thuộc vào thị trường châu Âu và Nga, FBT đã nỗ lực bán hàng sang các thị trường mới như Nam Mỹ, khiến chi phí tìm kiếm thị trường tăng lên nên giá vốn cao. Giá bán thấp, trong khi giá vốn bình quân cao khiến lợi nhuận gộp của FBT âm đến 20,1 tỉ đồng, dù doanh thu đạt 806,2 tỉ đồng. TRI (NƯỚC GIẢI KHÁT SÀI GÒN) Xét về hoạt động đầu tư, tình hình của TRI năm 2009 không có gì sáng sủa. Công ty vẫn tiếp tục thua lỗ trong liên doanh, liên kết (lỗ 8,9 tỉ đồng). Năm 2009, trong khi các đối thủ như Pepsi, Coca-Cola, Tân Hiệp Phát ra sức tăng tốc, đổi mới sản phẩm để cạnh tranh thì TRI vẫn mãi loay hoay với bài toán vốn. Và dù TRI chủ trương mạnh tay đầu tư cho các hoạt động bán hàng, marketing, quảng cáo nhưng hiệu quả của các khoản đầu tư này lại không cao. Không nhiều người biết TRI có tổng cộng bao nhiêu sản phẩm. Thậm chí sữa đậu nành, dòng sản phẩm nổi bật nhất của TRI, cũng đang giảm dần vị thế do sản phẩm thiếu đa dạng, chỉ hướng đến phục vụ đối tượng khách hàng có thu nhập trung bình trở xuống. Nếu không khắc phục được tình trạng thua lỗ, TRI sẽ phải đối diện với nguy cơ bị buộc hủy niêm yết trong năm 2011. VTA (VITALY) Do khoản lỗ ròng 13 tỉ đồng trong 9 tháng đầu năm 2009 nên lợi nhuận sau thuế lũy kế cả năm 2009 của công ty sản xuất gạch men và đá ốp lát VTA âm 34,56 tỉ đồng. Lý do công ty này đưa ra là tình hình kinh doanh gặp khó khăn do thị trường bất động sản chưa khởi sắc, giá bán giảm do phải cạnh tranh với nhiều dòng sản phẩm cấp thấp. Giá nguyên vật liệu tăng càng khiến việc thua lỗ thêm trầm trọng. Ngoài ra, việc trích lập dự phòng giá thành phẩm giảm cũng là nguyên nhân khiến giá vốn tăng cao. MHC (HÀNG HẢI HÀ NỘI) Năm 2009, MHC lỗ 32,6 tỉ đồng và cổ phiếu MHC bị đưa vào diện cảnh báo. Nguyên nhân thua lỗ dù chưa được MHC giải trình chính thức nhưng có lẽ cũng tương tự như các công ty cùng ngành chủ yếu là do tình trạng giảm cước vận chuyển hàng hải. Đến quý I/2010, tình hình hoạt động của MHC vẫn không mấy khả quan. Doanh thu thuần từ bán hàng và cung cấp dịch vụ trong quý này đạt 5,6 tỉ đồng, giảm 37% so với cùng kỳ năm 2009 và chỉ hoàn thành được 3,88% kế hoạch của năm 2010. SHC (HÀNG HẢI SÀI GÒN) SHC lỗ gần 9 tỉ đồng trong năm 2009, cũng với lý do tương tự Vinashin và Hàng hải Hà Nội. Quý IV/2009, giá thuê tàu SHC giảm chỉ còn 3.500 USD/ ngày (so với 5.500 USD/ngày thời gian trước đó). Chi phí tài chính phát sinh trong quý IV của SHC cũng tăng gần 1,5 lần so với quý trước, do cuối năm phải đánh giá lại chênh lệch tỉ giá các khoản phải thu và nợ vay dài hạn. Theo tin từ Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX), cổ phiếu của SHC sẽ bị đưa vào diện cảnh báo kể từ ngày 12.4.2010. SD8 (SÔNG ĐÀ 8) Cổ phiếu SD8 của Công ty Cổ phần Sông Đà 8 (hoạt động trong lĩnh vực thi công công trình hạ tầng), cũng đã bị đưa vào diện cảnh báo từ ngày 22.3.2010 vì đã lỗ hơn 8 tỉ đồng trong năm 2009. Lý do được công ty này giải trình là năm 2009 SD8 bị “thiếu việc làm” do một số hạng mục công trình đã kết thúc (trong khi SD8 có khá nhiều lĩnh vực kinh doanh như công trình điện, thủy lợi, công nghiệp, dân dụng, giao thông, cấp thoát nước, công trình ngầm, đường hầm, khai thác mỏ, xây dựng khu công nghiệp, đô thị và đầu tư tài chính). Công tác nghiệm thu,thanh toán với chủ đầu tư cũng gặp nhiều khó khăn. Vì vậy, doanh thu năm 2009 của SD8 rất thấp, chỉ đạt 140,9 tỉ đồng, so với kế hoạch năm là 192 tỉ đồng (tức hoàn thành 73%). PDC (DU LỊCH DẦU KHÍ PHƯƠNG ĐÔNG) Chín tháng đầu 2009, PDC công bố kết quả kinh doanh lãi, nhưng đến cuối năm PDC đã rơi xuống nhóm những doanh nghiệp niêm yết lỗ nặng nhất trong năm. Một trong những nguyên nhân gây lỗ là PDC có khoản phải thu quá cao (tăng 2,7 lần so với năm 2008) và phải trích dự phòng khoản phải thu khó đòi đến 46,2 tỉ đồng. Ngoài ra, năm 2009, PDC còn thêm gánh nặng chi phí đầu tư, vay và nợ ngắn hạn đều tăng. Chi phí lãi vay tăng từ 1,8 tỉ đồng lên 4,4 tỉ đồng và việc giá vốn cao hơn giá bán hàng hóa cũng khiến lãi gộp của PDC âm 7,1 tỉ đồng. Đặc biệt, chi phí doanh nghiệp của PDC tăng đến mức khó hiểu: từ 3 tỉ năm 2008 lên 50,6 tỉ đồng trong năm 2009. (Theo )
|
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét