Dự án Luật Kiểm toán độc lập:
Ba vấn đề đặt ra
Dự án Luật Kiểm toán độc lập đang được Ban soạn thảo gấp rút nghiên cứu xây dựng để trình Quốc hội khoá XII trong các kỳ họp tới. Trong khi đó, rất nhiều luật khác đã được ban hành và đang hiệu lực thi hành trong thực tiễn, chúng chứa đựng những nội dung liên quan đến các hoạt động kiểm toán độc lập, như: Luật Kiểm toán nhà nước, Luật Doanh nghiệp, Luật Ngân sách nhà nước, Luật Kinh doanh chứng khoán, Luật Đầu tư, Luật Thương mại, Luật các tổ chức tín dụng... Vì vậy, việc xây dựng Luật kiểm toán độc lập phải đảm bảo tính đồng bộ và phù hợp với hệ thống pháp luật hiện hành. Theo đó, có 3 yêu cầu cơ bản đặt ra khi xây dựng nội dung luật.
PGS.TS Đoàn Xuân Tiên
Luật Kiểm toán độc lập phải tương thích với Luật Kiểm toán nhà nước.
Luật Kiểm toán nhà nước (KTNN) được Quốc hội thông qua và ban hành năm 2005, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2006. Mặc dù đây là luật chuyên ngành, điều chỉnh đối với tổ chức và hoạt động KTNN, song cũng có những quy định liên quan đến kiểm toán độc lập. Do vậy, khi xây dựng Luật kiểm toán độc lập (KTĐL) cần phải nghiên cứu và bám sát những nội dung liên quan cho phù hợp.
Tại Khoản 8, Điều 16 của Luật KTNN có quy định quyền hạn của KTNN “Được ủy thác hoặc thuê doanh nghiệp kiểm toán thực hiện kiểm toán cơ quan, đơn vị, tổ chức quản lý, sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước; KTNN chịu trách nhiệm về tính chính xác của số liệu, tài liệu và kết luận kiểm toán do doanh nghiệp kiểm toán thực hiện”. Quy định này nhằm đảm bảo và hỗ trợ cho KTNN đủ năng lực và chủ động trong tổ chức, xã hội hoá các hoạt động dịch vụ kiểm toán để thực hiện nhiệm vụ, đồng thời đảm bảo tính hiệu quả hoạt động của tổ chức bộ máy, nguồn lực của KTNN. Trong trường hợp này, chủ thể của đối tượng kiểm toán là KTNN. Nội dung kiểm toán, phạm vi kiểm toán và thời gian tiến hành kiểm toán... đều thực hiện theo yêu cầu của KTNN và thực hiện trên cơ sở hợp đồng ủy thác hoặc thuê doanh nghiệp kiểm toán của KTNN. Nhằm ràng buộc trách nhiệm pháp lý đối với KTNN về chất lượng báo cáo kiểm toán trong Luật KTNN cũng đã quy định rõ KTNN phải chịu trách nhiệm về tính chính xác của số liệu, tài liệu và kết luận kiểm toán do doanh nghiệp KTĐL thực hiện. Đồng thời, trách nhiệm của các doanh nghiệp KTĐL trong việc hợp đồng hoặc ủy thác kiểm toán này là phải áp dụng theo quy trình, chuẩn mực kiểm toán của KTNN. Về vấn đề này, chắc chắn Luật KTĐL cũng phải quy định thống nhất và cụ thể hơn về trách nhiệm, quyền của các doanh nghiệp KTĐL trong việc được KTNN ủy thác hoặc thuê thực hiện kiểm toán.
Khoản 12, Điều 63 của Luật KTNN quy định về quyền và nghĩa vụ của đơn vị thuộc đối tượng của KTNN có nội dung liên quan đến KTĐL như sau: “Đơn vị nhận trợ giá, trợ cấp Nhà nước, đơn vị có công nợ được Nhà nước bảo lãnh mà không phải là doanh nghiệp kiểm toán nhà nước có thể thuê doanh nghiệp kiểm toán thực hiện kiểm toán; doanh nghiệp kiểm toán phải thực hiện việc kiểm toán theo chuẩn mực, quy trình Kiểm toán Nhà nước và gửi báo cáo kiểm toán cho Kiểm toán Nhà nước”. Đó là các đơn vị nhận trợ giá, trợ cấp của Nhà nước, đơn vị có công nợ được Nhà nước bảo lãnh không phải là doanh nghiệp nhà nước, các đơn vị này đều thuộc đối tượng và phạm vi của KTNN. Tuy nhiên, các đơn vị như vậy có thể thuê doanh nghiệp kiểm toán thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính hàng năm, nhưng phải có điều kiện nhất định. Trong trường hợp này, khách hàng của các doanh nghiệp kiểm toán không phải là KTNN mà là các doanh nghiệp, đơn vị nhận tài trợ, bảo lãnh của Nhà nước. Mặc dù thực hiện theo hợp đồng ký kết giữa hai doanh nghiệp với nhau, không phải là KTNN, nhưng trong trường hợp này doanh nghiệp kiểm toán phải thực hiện theo quy trình, chuẩn mực kiểm toán của KTNN và phải gửi báo cáo cho KTNN. Vấn đề này cần được cụ thể hoá trong Luật KTĐL cũng cho nhất quán với Luật KTNN, đồng thời sẽ quy định cụ thể hơn trách nhiệm về thực hiện quy trình, chuẩn mực chuyên môn và báo cáo của các doanh nghiệp KTĐL.
Các doanh nghiệp KTĐL khi là cộng tác viên của các đoàn kiểm toán của KTNN sẽ có quyền, nghĩa vụ là trách nhiệm rất cụ thể, cần được quy định trong Luật KTĐL cho tương thích với Luật KTNN. Về vấn đề này, Luật KTNN quy định tại các Điều 32, Điều 49 như sau: “Các thành viên khác của Đoàn kiểm toán, gồm kiểm toán viên dự bị và cộng tác viên kiểm toán” (Khoản 1, Điều 49); “...cộng tác viên kiểm toán là các doanh nghiệp kiểm toán, các chuyên gia trong và ngoài nước...” (Khoản 1, Điều 32). Với tư cách là cộng tác viên kiểm toán, doanh nghiệp kiểm toán có các quyền và nghĩa vụ, như: thực hiện quyền, nghĩa vụ theo hợp đồng; chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật về KTNN; chịu trách nhiệm trước KTNN và trước pháp luật về kết quả thực hiện nhiệm vụ; khi có hành vi vi phạm pháp luật thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
Luật KTĐL phải phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của KTNN.
Điều 4 Luật KTNN quy định “Hoạt động kiểm toán của KTNN là việc kiểm tra, đánh giá và xác nhận tính đúng đắn, trung thực của báo cáo tài chính; việc tuân thủ pháp luật; tính kinh tế, hiệu lực, hiệu quả trong quản lý, sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước”. Với kiểm toán độc lập, Điều 2, Nghị định 105/2004/NĐ-CP ngày 30/03/2004 về kiểm toán độc lập quy định: “KTĐL là việc kiểm tra và xác nhận của kiểm toán về tính trung thực và hợp lý của các tài liệu, số liệu kế toán và báo cáo tài chính của các doanh nghiệp, tổ chức (gọi chung là đơn vị được kiểm toán) khi có yêu cầu của các đơn vị này”. Như vậy, có thể thấy khác biệt cơ bản của KTĐL và KTNN, đó là một bên là hoạt động của cơ quan công quyền thực thi theo quyền lực nhà nước, không cần có sự chấp thuận hay yêu cầu của đơn vị được kiểm toán. Trong điều kiện đó, KTĐL (hay các doanh nghiệp kiểm toán) sẽ thực hiện theo các hợp đồng ký kết giữa doanh nghiệp kiểm toán và đơn vị được kiểm toán. Việc kiểm toán nội dung nào, phạm vi đến đâu, sẽ do hai bên thống nhất ký kết. Đối với KTNN, việc thực hiện kiểm toán (kể cả nội dung và phạm vi kiểm toán) sẽ theo kế hoạch, được Tổng KTNN quyết định.
Luật KTĐL phải thống nhất các bộ luật khác
Sau khi Luật Doanh nghiệp 2005 có hiệu lực đã làm cho toàn bộ các quy định liên quan đến tiêu chuẩn, điều kiện thành lập và hoạt động đối với doanh nghiệp kiểm toán thay đổi so với các thông tư hướng dẫn thực hiện nghị định về KTĐL.
Ví dụ: Luật doanh nghiệp quy định, doanh nghiệp kinh doanh có điều kiện thì “Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc phải có chứng chỉ kiểm toán viên và phải có thời gian công tác thực tế về kiểm toán từ 3 năm trở lên kể từ khi được cấp Chứng chỉ kiểm toán viên (KTV)”. Như vậy, theo Luật Doanh nghiệp thì người vừa có chứng chỉ KTV chưa làm kiểm toán ngày nào cũng được làm Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc doanh nghiệp kiểm toán, từ đó, chất lượng kiểm toán sẽ không thể đảm bảo. Cũng theo Luật Doanh nghiệp thì các bộ, ngành không được quy định về ngành nghề kinh doanh có đièu kiện và điều kiện kinh doanh. Do đó, các tiêu chuẩn, điều kiện liên quan đến tổ chức thành lập và hoạt động của doanh nghiệp kiểm toán theo Thông tư của Bộ Tài chính, muốn duy trì hiệu lực pháp lý, bắt buộc phải trình Chính phủ quy định.
Ví dụ trên chỉ là một trong các trường hợp điển hình về sự bất cập giữa Luật Doanh nghiệp và Nghị định về KTĐL.
Do vậy, khi xây dựng Luật KTĐL cần chú ý tính tương thích và phù hợp hệ thống pháp luật hiện hành như Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Thương mại, Luật Ngân sách nhà nước, Luật Các tổ chức tín dụng, Luật Kinh doanh chứng khoán... Có như vậy thì chính sách kinh tế của Đảng và Nhà nước mới đi vào cuộc sống./.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét