Thứ Năm, 6 tháng 5, 2010

Giảm giá trị của Lợi thế Thương mại - Tính hợp lý của việc trình bày thông tin trên báo cáo tài chính (P.3)

Xem hình


Trong Bảng 2 ta thấy 16 công ty áp dụng phương pháp giá trị hợp lý (hoặc đơn lẻ, hoặc kết hợp với phương pháp khác) được lựa chọn trong mẫu nghiên cứu. Các đơn vị này xác định 22 đơn vị tạo tiền (CGUs) trong việc áp dụng phương pháp giá trị hợp lý để xác định giá trị có thể thu hồi.

Xem Phần 1, Phần 2

Bảng 4: Phân tích cơ sở áp dụng dựa trên phương pháp giá trị hợp lý

Mã code

Cơ sở xác định

Tần xuất CGU

Tỷ lệ %

A

Giá thị trường

9

40,9

B

Giá nghiệp vụ gần nhất

1

4,5

C

Thông tin sẵn có

1

4,5

D

Đánh giá độc lập

7

27,6

E

Tài sản thuần được điều chỉnh

1

4,5

F

Giá trị thuần có thể thực hiện

1

4,5

G

Không trình bày

3

13,5



Tổng cộng

22

100,0

Có 9 CGU được xác định giá trị có thể thu hồi dựa trên giá thị trường, chiếm tỷ lệ cao nhất trong mẫu nghiên cứu (gần 41%). Các công ty áp dụng phương pháp giá trị hợp lý để xác định giá trị có thể thu hồi của CGU dựa trên giá thị trường được cho là đem lại kết quả có độ tin cậy cao nhất.

7 CGU được xác định giá trị có thể thu hồi dựa trên đánh giá độc lập của các chuyên gia bên ngoài (chiếm 27%). Tuy nhiên, kết quả dựa trên đánh giá của chuyên gia bên ngoài cũng gây nhiều tranh cãi. Ví dụ, xác định giá trị tài sản phục vụ cho mục đích vay vốn ngân hàng sẽ đem lại kết quả khác với xác định giá trị tài sản phục vụ mục đích thuế, hay mục đích cổ phần hóa… Do vậy, với các kết quả xác định giá trị có thể thu hồi của các CGU khác nhau thì dẫn tới chi phí giảm giá trị có thể bị ghi nhận sai và ảnh hưởng đến việc ghi nhận lợi nhuận trong kỳ cũng như tính trung thực và hợp lý của các thông tin trên báo cáo tài chính.

Một điều đáng ngạc nhiên đó là 3 CGU được xác định theo phương pháp giá trị hợp lý nhưng lại không trình bày cơ sở áp dụng (chiếm 13,5%). Việc không trình bày cơ sở áp dụng phương pháp giá trị hợp lý làm cho người sử dụng báo cáo tài chính không có thông tin trong việc đánh giá tính sắc bén của phương pháp áp dụng, cũng như kết quả kiểm tra giảm giá trị của tài sản. Các công ty này được đánh giá là không tuân thủ HKAS 36.

Các cơ sở còn lại để xác định giá trị có thể thu hồi của các CGU như giá nghiệp vụ gần nhất, thông tin sẵn có, tài sản thuần được điều chỉnh, giá trị thuần có thể thực hiện được cũng gây ra nhiều tranh cãi về kết quả xác định. Hàng loạt các câu hỏi phát sinh và không có câu trả lời cho vấn đề này.

Ví dụ, trong trường hợp xác định giá trị có thể thu hồi dựa trên giá nghiệp vụ gần nhất. Vậy giá nghiệp vụ gần nhất xảy ra khi nào, giá nghiệp vụ đó có so sánh được với giá của các tài sản trong CGU hay không, tài sản trong nghiệp vụ đó có cùng rủi ro và thị trường với tài sản đang được đánh giá hay không. Với việc trình bày đơn giản như vậy sẽ làm cho người sử dụng báo cáo tài chính không có thông tin đầy đủ trong việc xác định xem giá trị có thể thu hồi có hợp lý và tin cậy hay không? Hoặc giá trị có thể thu hồi được xác định dựa trên giá trị thuần được điều chỉnh lãi suất để phản ánh giá trị thị trường tại ngày lập bảng cân đối kế toán. Vấn đề nảy sinh đó là giá trị ghi sổ sẽ được điều chỉnh như thế nào để sát với giá thị trường thông qua tỷ lệ lãi vay.

Điểm nổi bật nhất trong việc trình bày liên quan đến áp dụng phương pháp giá trị hợp lý cho mục đích xác định giảm giá trị của Lợi thế thương mại đó là thiếu rất nhiều thông tin. Các công ty trong mẫu chỉ trình bày thông tin tối thiểu về phương pháp giá trị hợp lý với cơ sở áp dụng hoàn toàn không đầy đủ các thông tin quan trọng có liên quan.

So với yêu cầu của chuẩn mực cho thấy có ba vấn đề cần quan tâm: Một là, các công ty hoàn toàn không tuân thủ yêu cầu trình bày của chuẩn mực khi áp dụng phương pháp giá trị hợp lý trong việc xác định giá trị có thể thu hồi của các CGU. Hai là, việc phân loại nội dung trình bày của phương pháp giá trị hợp lý với ít giả định trình bày được đặt sau nội dung trình bày của phương pháp giá trị sử dụng với nhiều giả định phức tạp đã làm cho người lập báo cáo tài chính có cảm giác trình bày phương pháp giá trị hợp lý với ít thông tin. Do vậy, các công ty áp dụng phương pháp giá trị hợp lý có xu hướng thích trình bày ít thông tin hơn là trình bày nhiều thông tin. Ba là, người lập báo cáo tài chính có khả năng chú ý nhiều hơn đến hình thức trình bày mà không quan tâm đến bản chất, tính hợp lý và độ tin cậy của các giả định cũng như kết quả xác định.

5. Bài học kinh nghiệm

Quy định về ghi chép, đo lường và báo cáo Lợi thế thương mại trong HKAS 36 có nhiều điểm khác biệt so với chuẩn mực và các quy định trước đó. Xét cả về lý luận và thực tiễn, tính phức tạp của phương pháp xác định giảm giá trị của Lợi thế thương mại thực sự là một thách thức đối với các công ty trong những năm đầu áp dụng HKAS 36.

Là một nước có hệ thống kế toán và kiểm toán tương đối hoàn thiện, để bảo đảm sự hòa nhập với IFRS, Hồng Kông đã sớm ban hành Chuẩn mực lập báo cáo tài chính (HKFRS) và chính thức áp dụng từ 1/1/2005, trong đó có HKAS 36. Tuy nhiên, qua nghiên cứu này, nhiều bài học được rút ra giúp các nhà ban hành chính sách có cái nhìn sâu sắc hơn về phương pháp áp dụng cũng như định hình chính sách trong tương lai. Cụ thể:

Một là, một số quy định của chuẩn mực chưa thực sự rõ ràng, có tính phức tạp cao và gây khó khăn cho người lập báo cáo tài chính.

Hai là, tính tuân thủ thấp, chất lượng thông tin trình bày kém và không nhất quán đối với phương pháp xác định giảm giá trị của Lợi thế thương mại trong HKSA 36, có thể do năng lực nghề nghiệp của kế toán viên chưa đáp ứng được sự thay đổi nhanh chóng và phức tạp của chuẩn mực kế toán. Tuy nhiên, sai phạm này được lặp lại nhiều năm thì có nhiều khả năng người lập báo cáo tài chính miễn cưỡng trong việc thực hiện chuẩn mực và việc thực hiện chuẩn mực chỉ mang tính hình thức mà không coi trọng đến chất lượng và kết quả áp dụng.

Bà là, phản ứng từ phía cơ quan có thầm quyền còn hạn chế. Năm 2006 là năm thứ hai áp dụng chuẩn mực, tuy nhiên chưa có một nghiên cứu đánh giá về tính tuân thủ và chất lượng trình bày từ phía các cơ quan có thẩm quyền, cũng như các biện pháp đối với các công ty không tuân thủ chuẩn mực.

Tại Việt Nam, Chuẩn mực Kế toán Việt Nam “Giảm giá trị của tài sản” hiện đang trong lộ trình xây dựng. Do chưa có chuẩn mực quy định về giảm giá trị của tài sản, hơn nữa chuẩn mực kế toán về tài sản cố định hữu hình và tài sản cố định vô hình lại không quy định về vấn đề này, do vậy, tài sản trong các doanh nghiệp tại Việt Nam được ghi nhận theo nguyên giá, khấu hao lũy kế và giá trị còn lại. Vậy nên, có nhiều khả năng giá trị ghi sổ của tài sản trên báo cáo tài chính có thể cao hơn nhiều so với giá trị có thể thu hồi của tài sản. Việc xác định giá trị thực về tài sản của các doanh nghiệp hiện nay là một vấn đề rất nan giải, điều này thực sự gây lo lắng cho cơ quan nhà nước, người sử dụng báo cáo tài chính và cả kiểm toán viên khi đưa ra ý kiến đánh giá của mình.

Tài liệu tham khảo

1. Archel, P., On the nature of goodwill and its amortisation policy effects. Iniversidad Publica de Navarra – Spain, 2000.

2. Carlin, T. M. & Finch, N., Goodwill Impairment Testing Under IFRS-A False Impossible Shore? , University of Sydney and MGSM Centre for Managerial Finance, Working Paper, 2008 a.

3. Carlin, T. M. & Finch, N., Discount Rates in Disarray : Evidence on Flawed Goodwill Impairment Testing. University of Sydney and MGSM Centre for Managerial Finance, Working Paper, 2008b.

4. Carlin, T. M., Finch, N. & Ford, G., “Are All Audits Born Equal?", Journal of Applied Research in Accounting and Finance, vol. 2, iss. 1, pp. 21-32, 2007a.



ThS. Trần Mạnh Dũng

Đại học Kinh tế Quốc dân

Nghiên cứu sinh tiến sỹ Đại học Macquarie, Úc

(Theo: Tạp chí Khoa học Thương mại, số 32, tháng 10/2009)



(Theo Kiemtoan.com.vn)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét