Thứ Năm, 6 tháng 5, 2010

Giảm giá trị của Lợi thế Thương mại - Tính hợp lý của việc trình bày thông tin trên báo cáo tài chính (P.1)

Xem  hình


Xác định giảm giá trị của Lợi thế Thương mại theo Chuẩn mực lập Báo cáo tài chính quốc tế được xem là bước quan trọng trong việc chuyển đổi kế toán tài chính và lập Báo cáo tài chính từ phương pháp giá phí đến phương pháp giá trị hợp lý. Sự chuyển đổi này phản ánh nhu cầu của người sử dụng báo cáo tài chính cũng như nỗ lực của cơ quan ban hành chính sách nhằm đảm bảo có được thông tin kế toán phù hợp hơn.

Trong thực tế, các công ty áp dụng phương pháp giá trị hợp lý để xác định giá trị có thể thu hồi của các đơn vị tạo tiền (CGU) dựa trên giá thị trường được cho là đem lại kết quả có độ tin cậy cao nhất. Tuy nhiên các nghiên cứu đã tiến hành khảo sát, so sánh trong 249 công ty thuộc năm ngành khác nhau để rút ra những kết luận về tính hiệu quả của việc áp dụng phương pháp này. Từ đó, bài viết đã liên hệ với thực tiễn của Việt nam và gợi ý một số vấn đề cần sửa đổi và hoàn thiện đối với chuẩn mực kế toán số 36 (VAS 36) trong thời gian tới.

1. Giới thiệu phương pháp giá trị hợp lý trong việc xác định giảm giá trị Lợi thế thương mại của HKAS 36

Việc áp dụng Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) đã dẫn đến những thay đổi đáng kể về công tác kế toán và phương pháp lập báo cáo đối với Lợi thế thương mại được áp dụng tại nhiều nước trên thế giới, trong đó có Hồng Kông. Phương pháp xác định giảm giá trị của Lợi thế thương mại theo IFRS hoàn toàn khác với các phương pháp ghi nhận và xử lý trước đó. Về nguyên tắc, Lợi thế thương mại sẽ được xem xét giảm giá trị khi đơn vị không thể bù lại được giá trị ghi sổ trên Bảng cân đối kế toán.

Xác định giảm giá trị của Lợi thế thương mại theo Chuẩn mực kế toán Hồng Kông số 36 (HKAS 36) “Giảm giá trị của tài sản” được áp dụng cho kỳ lập báo cáo tài chính từ 1/1/2005, yêu cầu xác định “Giá trị có thể thu hồi” đối với Lợi thế thương mại theo năm. Giá trị có thể thu hồi của Lợi thế thương mại được so sánh với giá trị ghi sổ của Lợi thế thương mại để xác định chi phí giảm giá trị của nó (nếu có). Giá trị có thể thu hồi được xác định là giá trị cao hơn giữa giá trị hợp lý và giá trị sử dụng.

Các nghiên cứu trước đây nhằm kiểm tra chất lượng thông tin trình bày và tính tuân thủ về ghi giảm giá trị của Lợi thế thương mại ở nhiều nước trên thế giới như Anh, Úc, New Zealand… đã chỉ ra những điểm không nhất quán trong việc tuân thủ chuẩn mực và chất lượng thông tin được trình bày trên báo cáo tài chính, trong đó đặc biệt tập trung vào các thông tin liên quan đến việc áp dụng phương pháp giá trị sử dụng trong việc xác định giảm giá trị của tài sản. Trong HKAS 36 quy định ngoài phương pháp giá trị sử dụng thì phương pháp giá trị hợp lý cũng được áp dụng để xác định giảm giá trị của tài sản trong một số trường hợp nhất định.

Hiện tại, chưa có một nghiên cứu nào về chất lượng thông tin trình bày theo phương pháp giá trị hợp lý trong đó có trình bày thông tin Lợi thế thương mại và tính tuân thủ về giảm giá trị của Lợi thế thương mại trên báo cáo tài chính tại Hồng Kông trong những năm đầu áp dụng IFRS. Do vậy, nghiên cứu này có mục đích đánh giá chất lượng thông tin trình bày và tính tuân thủ HKAS 36 của các công ty niêm yết có quy mô lớn trên thị trường chứng khoán Hồng Kông.

2. Những quy định chung của HKAS 36

Các chuẩn mực kế toán của hầu hết các nước hiện hành quy định sử dụng giá phí trong việc ghi nhận, đo lường và báo cáo các chỉ tiêu trên báo cáo tài chính. Tuy nhiên, xu hướng ngày càng tăng lên theo hướng nguyên tắc giá phí sẽ dần bị thay thế bởi kế toán theo phương pháp giá trị hợp lý. Sự chuyển đổi này phản ánh nhu cầu của người sử dụng báo cáo tài chính cũng như nỗ lực của cơ quan ban hành chính sách trong việc tạo ra thông tin kế toán phù hợp hơn.

Trước năm 1938, phương pháp giá trị hợp lý được áp dụng đối với ngân hàng và các tổ chức tài chính. Do trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế, nhu cầu cần thiết đối với các tổ chức tài chính ghi giảm giá cổ phần, báo cáo lỗ và giảm công nợ để xác định giá trị hợp lý của ngân hàng và của tổ chức tài chính, đến năm 1947, phương pháp này xuất hiện lại trong việc xác định “Hàng tồn kho” theo giá trị thuần có thể thực hiện được hoặc theo giá thị trường.

Ngày nay, việc đo lường theo phương pháp giá trị hợp lý đang trở nên phổ biến trong chuẩn mực lập báo cáo tài chính bao gồm:

- Chứng khoán giao dịch hoặc công nợ để dàn xếp nghĩa vụ thanh toán theo công cụ tài chính;

- Tài sản hoặc công nợ có được từ hợp nhất kinh doanh và xác định giá trị ban đầu của Lợi thế thương mại;

- Tài sản hoặc công nợ được điều chỉnh định kỳ như xác định giảm giá trị của tài sản, giảm giá trị của Lợi thế thương mại;

- Nghiệp vụ liên quan đến trao đổi tài sản giữa các bên độc lập không thanh toán bằng tiền;

Kế toán về Lợi thế thương mại đã thay đổi ở Hồng Kông từ 1/1/2005 theo Chuẩn mực số 3 “Hợp nhất kinh doanh” (HKFRS 3) và HKAS 36. Hiện tại, Lợi thế thương mại được ghi nhận ban đầu theo HKFRS 3 như là giá trị chênh lệch giữa giá mua và giá trị hợp lý của tài sản trừ (-) đi giá trị hợp lý của công nợ phải trả (trong trường hợp giá mua cao hơn giá trị hợp lý của tài sản và công nợ).

Theo quy định của HKAS 36, Lợi thế thương mại có được từ Hợp nhất kinh doanh không được khấu hao mà được xác định giảm giá trị hàng năm hoặc bất cứ khi nào có sự kiện hoặc dấu hiệu chỉ ra rằng giá trị có thể thu hồi bị giảm sút, đó là giá trị ghi sổ vượt quá giá trị có thể thu hồi. Một vấn đề đáng bàn luận trong việc xác định giá trị có thể thu hồi của Lợi thế thương mại xuất phát từ thực tế rằng Lợi thế thương mại không tạo ra lợi nhuận 1 cách riêng biệt, do chúng không thể nhận diện riêng biệt mà chúng được gắn với đơn vị tạo tiền. Đơn vị tạo tiền (CGU) là nhóm tài sản nhận diện nhỏ nhất mà nó tạo ra luồng tiền vào độc lập với luồng tiền vào của các tài sản khác hoặc nhóm tài sản khác. Khi giá trị có thể thu hồi của từng tài sản không thể ước tính được, chuẩn mực yêu cầu đơn vị tạo tiền (CGU) mà tài sản liên quan được nhận diện và giá trị có thể thu hồi của từng CGU được đánh giá.

Theo quy định của chuẩn mực, kế toán tiến hành ước tính giá trị có thể thu hồi của các CGU và tiến hành so sánh với giá trị ghi sổ của các CGU (bao gồm cả giá trị của Lợi thế thương mại phân bổ cho các CGU). Nếu giá trị ghi sổ nhỏ hơn giá trị có thể thu hồi, khi đó không xuất hiện chi phí giảm giá trị của tài sản. Trong trường hợp ngược lại, sẽ xuất hiện chi phí giảm giá trị của tài sản và khoản chênh lệch này sẽ được ghi giảm cho Lợi thế thương mại đã phân bổ cho các CGU, sau đó đến từng tài sản trong CGU theo tỷ lệ phần trăm của nguyên giá từng tài sản trong CGU.

Như vậy, nhận diện bất cứ chi phí giảm giá trị nào đều phụ thuộc vào 2 sự lựa chọn đó là nhận diện CGU và thành phần CGU; ước tính giá trị có thể thu hồi của các CGU. Thực tế lựa chọn theo ý muốn chủ quan của các nhà quản lý về phương pháp áp dụng cũng như các giả định có liên quan như là công cụ kiểm soát lợi nhuận trong kỳ.

Trong bài viết này chúng tôi sẽ soát xét một số quy định cơ bản của chuẩn mực yêu cầu báo cáo và trình bày vấn đề này trên báo cáo tài chính để hiểu được tính ứng dụng của chúng.

Đoạn 6 của HKAS 36 xác định giá trị hợp lý trừ đi chi phí bán là số tiền có thể thu được từ việc bán tài sản hay đơn vị tạo tiền giữa các bên trong sự trao đổi ngang giá. Chuẩn mực quy định giá trị có thể thu hồi của tài sản theo phương pháp giá trị hợp lý được thực hiện như sau:

- Giá trong hợp đồng kinh tế được coi là bằng chứng tốt nhất trong sự trao đổi ngang giá trừ (-) đi chi phí liên quan trực tiếp đến việc bán tài sản đó;

- Trong trường hợp không có hợp đồng kinh tế nhưng tài sản được trao đổi trên thị trường, giá trị hợp lý là giá thị trường trừ (-) chi phí bán tài sản đó. Giá thị trường hợp lý thường là giá bỏ thầu, khi giá bỏ thầu không tồn tại, dựa vào giá của nghiệp vụ giao dịch gần nhất;

- Trong trường hợp không có hợp đồng kinh tế và giá thị trường cho tài sản thì giá trị hợp lý được dựa trên thông tin sẵn có phù hợp nhất để phản ánh giá trị mà đơn vị có thể thu được từ việc bán tài sản giữa các bên có hiểu biết trong sự trao đổi ngang giá sau khi trừ đi chi phí bán tài sản đó tại ngày báo cáo.

Khi không tồn tại Hợp đồng kinh tế, giá trị hợp lý của tài sản hay đơn vị tạo tiền (CGU) được xác định bởi thị trường. Thị trường được xác định là thị trường mà tất cả các điều kiện đều tồn tại, (i) tài sản được trao đổi trong thị trường là đồng nhất; (ii) người mua và người bán có thể tìm được ở bất cứ thời gian nào; (iii) giá cả sẵn có đến công chúng.

Đơn vị tạo tiền (CGU) có liên quan đến từng đơn vị và thay đổi về các bộ phận bên trong tài sản nên không thể có tài sản là đồng nhất, đồng thời do bản chất chuyên dụng của tài sản nên cũng không thể xác định được người mua và người bán ở bất cứ thời gian nào; trong khi giá cả đối với tài sản đồng nhất (chẳng hạn như chứng khoán niêm yết) là sẵn có cho công chúng. Để tồn tại thị trường cho CGU cần có cả 3 điều kiện trên đều xảy ra đồng thời, song 3 điều kiện trên tồn tại đồng thời là không thể có, cho nên không thể xảy ra giá thị trường có được trong việc ước tính giá trị hợp lý, ngoại trừ tài sản của đơn vị tạo tiền được niêm yết để trao đổi.



ThS. Trần Mạnh Dũng

Đại học Kinh tế Quốc dân

Nghiên cứu sinh tiến sỹ Đại học Macquarie, Úc

(Theo: Tạp chí Khoa học Thương mại, số 32, tháng 10/2009)

Xem tiếp Phần 2 tại đây





(Theo Kiemtoan.com.vn)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét