Thứ Năm, 6 tháng 5, 2010

Giảm giá trị của Lợi thế Thương mại - Tính hợp lý của việc trình bày thông tin trên báo cáo tài chính (P.2)

Xem hình


3. Thu thập số liệu và phương pháp nghiên cứu

HKAS 36 “Giảm giá trị của tài sản” có hiệu lực từ 1/1/2005, chính vì vậy năm tài chính 2005 được coi là năm đầu tiên áp dụng chuẩn mực. Trong nghiên cứu này, số liệu được thu thập cho năm 2006. Tiêu chuẩn chọn mẫu và số mẫu được thực hiện bao gồm (i) Các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Hồng Kông (HKEx); (ii) Các công ty có số dư Lợi thế thương mại và tuân thủ theo Chuẩn mực lập báo cáo tài chính Hồng Kông (HKFRS);

Xem Phần 1 tại đây



Kết quả là có 249 công ty được chọn vào mẫu thỏa mãn hai điều kiện trên, chiếm 63% trong tổng giá thị trường tại ngày 31/12/2006. Tổng quan về mẫu nghiên cứu được trình bày trong Bảng 1.

Bảng 1: Tổng quan về mẫu nghiên cứu

Ngành

Số lượng công ty

Tổng tài sản (triệu đôla HK)

Giá trị LTTM (triệu đôla HK)

Tỷ lệ % của LTTM trên Tổng tài sản

Hàng tiêu dùng

73

1.681.901

48.126

2,86%

Tài chính

24

18.193.042

315.987

1,74%

Viễn thông và dịch vụ

69

1.466.073

100.844

6,88%

Nguyên vật liệu

29

355.909

8.030

2,26%

Năng lượng và xây dựng

54

1.802.324

30.170

1,67%

Tổng cộng (n)

249

23.499.249

503.157

2,14%

Sau khi ấn định các công ty trong mẫu nghiên cứu theo từng ngành và được phân loại theo phương pháp áp dụng để xác định giảm giá trị của Lợi thế thương mại, quá trình này chỉ ra rằng phần lớn các công ty áp dụng phương pháp giá trị sử dụng trong xác định giảm giá trị của Lợi thế thương mại. Theo mục tiêu, các công ty áp dụng phương pháp giá trị sử dụng sẽ không thuộc đối tượng của nghiên cứu này.

Bảng 2: Phương pháp áp dụng để xác định giá trị có thể thu hồi

của các CGUs theo ngành

Ngành

Số lượng công ty

Giá trị hợp lý

Giá trị

sử dụng

Phương pháp hỗn hợp

Không trình bày













Hàng tiêu dùng

73

1

66

1

5

Tài chính

24

1

19

3

1

Viễn thông và dịch vụ

69

3

56

4

6

Nguyên vật liệu

29

-

25

1

3

Năng lượng và xây dựng

54

1

47

1

5

Tổng cộng (n)

249

6

213

10

20

Tỷ lệ % trong tổng thể

100.0%

2%

86%

4%

8%

Ghi chú: Phương pháp hỗn hợp bao gồm cả phương pháp giá trị sử dụng và giá trị hợp lý. Cụ thể, công ty áp dụng phương pháp giá trị sử dụng đối với vài CGU và giá trị hợp lý đối với một số CGU khác.

Với mục đích xác định giảm giá trị của Lợi thế thương mại theo phương pháp giá trị hợp lý để xác định giá trị có thể thu hồi của đơn vị tạo tiền (CGU), báo cáo tài chính hợp nhất được nghiên cứu, phân tích và đặc biệt quan tâm đến ghi chú báo cáo tài chính về trình bày giảm giá trị của Lợi thế thương mại. Do vậy, một hệ thống mã code được thiết kế theo thực tế trình bày giảm giá trị của Lợi thế thương mại. Việc thiết kế hệ thống mã code cho từng CGU quan trọng hơn là cho cả công ty vì theo quy định của chuẩn mực tiến hành kiểm tra giảm giá trị đối với từng CGU.

Một hệ thống gồm 7 mã code theo thực tế trình bày giảm giá trị của Lợi thế thương mại theo phương pháp giá trị hợp lý từ việc giá trị hợp lý được xác định theo giá thị trường đến trường hợp không trình bày cơ sở áp dụng phương pháp giá trị hợp lý. Theo đó, hệ thống mã code bao gồm: giá thị trường; nghiệp vụ gần nhất; thông tin sẵn có; đánh giá độc lập; tài sản thuần được điều chỉnh; giá trị thuần có thể thực hiện và không trình bày.

4. Kết quả và thảo luận

Xác định giá trị hợp lý của tài sản dường như rất đơn giản cả về kỹ thuật và thực tiễn áp dụng. Tuy nhiên, các công ty áp dụng phương pháp này phải báo cáo cơ sở áp dụng phù hợp, tin cậy và đưa cả các bằng chứng thuyết phục (bảng 3).

Bảng 3: Giá trị trung bình theo phương pháp áp dụng để xác định giá trị

có thể thu hồi của các CGUs

Ngành

Giá trị

hợp lý

Giá trị

sử dụng

Phương pháp hỗn hợp

Không trình bày

Tổng tài sản (triệu đôla HK)

34,003

106,334

31,619

16,493

Giá trị LTTM (triệu đôla HK)

119

2,281

1,574

45

Chi phí giảm giá trị LTTM (triệu đôlaHK)

-

6.72

14.05

-

Số lượng công ty

6

213

10

20

Bảng 3 đã chỉ ra số lượng nhỏ các công ty áp dụng phương pháp giá trị hợp lý trong việc ước tính giá trị có thể thu hồi của các CGUs. Các công ty áp dụng phương pháp giá trị hợp lý có quy mô thấp hơn các công ty áp dụng phương pháp giá trị sử dụng nhưng lớn hơn các công ty áp dụng phương pháp hỗn hợp và không trình bày phương pháp áp dụng. Tuy nhiên, hoàn toàn ngạc nhiên là không xuất hiện chi phí giảm giá trị của Lợi thế thương mại đối với các công ty áp dụng phương pháp giá trị hợp lý. Như vậy, có nhiều khả năng các công ty đã trì hoãn ghi nhận chi phí giảm giá trị của Lợi thế thương mại và làm cho lợi nhuận kế toán bị ghi cao hơn thực tế.



ThS. Trần Mạnh Dũng

Đại học Kinh tế Quốc dân

Nghiên cứu sinh tiến sỹ Đại học Macquarie, Úc

(Theo: Tạp chí Khoa học Thương mại, số 32, tháng 10/2009)

Xem tiếp Phần 3



(Theo Kiemtoan.com.vn)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét